AI Truyện
Những thứ tôi đặt lên Cân Trời

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Đường về Khe Lá

Những thứ tôi đặt lên Cân Trời · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Đường về Khe Lá

Ba ngày sau buổi lễ, trưởng lão Phí Đăng Quỳnh xin thôi giữ Cân Trời.

Không ai bắt ông. Luật Ngọc Cân Tông không cấm nuôi cân. Chưởng môn chỉ gọi ông vào một buổi chiều, đóng cửa nói chuyện một canh giờ, và khi ông bước ra, cây thước ngà không còn trong tay ông nữa. Người ta đồn chưởng môn đã hỏi ông đúng một câu: "Nếu thằng bé buông tay, ông định nói gì với nó?" Người ta đồn ông không trả lời được.

Tôi không biết chuyện đồn có thật không. Tôi chỉ biết tối hôm ấy, ông xuống dãy nhà ngoại môn thứ ba, đứng trước phòng của tôi và Khuê, gõ cửa.

Khuê mở cửa. Hai chú cháu đứng nhìn nhau một lúc. Rồi ông bước vào, ngồi xuống cái phản tre của tôi, cái phản ọp ẹp kêu lên dưới sức nặng của một người Kết Đan. Ông nhìn quanh căn phòng, nhìn cái cửa sổ trông ra mỏm đất trống, chỗ cây chè đã đứng năm năm rưỡi.

– Ta có một đứa con trai. – Ông nói, không mở đầu, không rào đón. – Tên là Hựu. Năm nay ba mươi hai tuổi, ở Lạng Kiều, làm quan coi kho thóc. Khuê biết nó.

– Anh Hựu. – Khuê nói khẽ.

– Năm ta bốn mươi tuổi, ta đứng trên Cân Trời phá Kết Đan. Ngưỡng Kết Đan nặng gấp mười Lập Thần. Ta đặt lên rất nhiều thứ. Không đủ. Thằng Hựu lúc ấy chín tuổi, đứng ở mép sân xem cha nó lên cân. – Ông dừng lại. – Ta đặt lòng thương nó.

Không ai trong phòng nói gì.

– Đĩa cân chìm. Ta buông tay. – Ông Quỳnh nói tiếp, đều đều, như đọc lại một trang sổ cũ. – Từ hôm ấy, ta nhìn nó như nhìn một người khách. Ta biết nó là con ta. Ta nhớ hết, nhớ ngày nó ra đời, nhớ nó gọi cha lần đầu. Nhưng nhớ như nhớ chuyện người khác. Nó lớn lên. Nó biết. Hai mươi ba năm nay, mỗi Tết nó lên núi thăm ta một lần, ngồi uống một chén trà, rồi về. Nó chưa bao giờ hỏi ta vì sao.

Ông nhìn Khuê.

– Ta tưởng ta muốn cho cháu đi con đường ta đã đi. Ta tưởng thế là đúng, vì nhà họ Phí đời nào cũng đi thế. – Ông đứng dậy. – Hôm cháu không buông tay, ta đứng bên cột cân, và ta nhớ lại cái cảm giác lúc ta buông. Ta không nhớ nó nặng thế nào. Nhưng ta nhớ là ta đã buông.

Ông đi ra cửa. Đến ngưỡng cửa, ông dừng lại, không quay đầu.

– Tháng sau ta về Lạng Kiều. Hội đồng họ Phí, ta là anh cả còn sống của bố cháu. Mẹ cháu ở lại họ Phí hay về nhà ngoại, ta còn nói được một câu. Còn gia phả thì ta không hứa.

Ông đi. Tôi nhìn theo cái lưng áo dài đen khuất dần trên con đường lát đá dẫn lên đỉnh núi, nơi đòn cân đồng đen vắt ngang trời, giờ đã có người khác giữ.

Mùa đông năm ấy, chị Xuyến nhận coi Vườn Mây. Không phải như một ngoại môn quản việc, mà như người giữ vườn, một chức trước nay chỉ dành cho người đã Lập Thần. Chưởng môn phá lệ. Chị bảo chị ở lại Rèn Xương, sống được tới hai trăm tuổi, đủ để dạy mấy lứa trẻ con phân biệt đương quy với cần dại. Chiều nào cũng thấy chị ngồi xổm giữa vườn, tai phải hướng về phía mấy đứa ngoại môn mới lên, giảng ngắn, không nói lại lần hai. Có lần tôi nghe chị kể cho tụi nhỏ chuyện một thằng bé tên Nhì ăn vụng đường phèn rồi đổ muối vào hũ cho đầy. Tụi nhỏ cười lăn lộn. Chị không cười. Nhưng mắt chị cười.

Chị xin tôi một việc.

– Lần này về Khe Lá, – chị nói, – xin bà cậu cho tôi mấy hạt chè tổ. Tôi muốn trồng một cây ở góc vườn. Không để đặt lên cân. Để có chỗ ngồi.

Đầu đông có thư từ Lạng Kiều. Mẹ Khuê vẫn ở lại nhà họ Phí. Chuyện gia phả thì thư không nhắc, và Khuê cũng không hỏi.

Khuê ở lại Rèn Xương. Nó không lên Cân Trời nữa trong năm ấy, cũng không nói khi nào lên. Có lần tôi hỏi, nó bảo nó đang tìm. Tôi hỏi tìm gì. Nó bảo tìm một thứ để nuôi, mà nuôi cho thật, không ai bảo. Hôm sau tôi thấy nó ra chợ phiên dưới chân núi, mua về một con chó con lông vàng, gầy nhom, ghẻ lở, mà người ta bán rẻ vì không ai muốn. Nó đặt tên con chó là Nút.

Tết năm ấy, Khuê dắt tôi về Khe Lá.

Nó đi trước, tay cầm tờ giấy vẽ đường đã nhàu nát, giờ được dán lên một miếng mo cau cho khỏi rách. Con Nút chạy lăng xăng phía trước, sủa vào những con bướm. Tôi đi sau. Cầu treo, suối Đá Bạc, cây gạo, bốn quả đồi thông. Với tôi vẫn là con đường mới, như lần đầu. Tôi đã quen với điều ấy. Mỗi khúc quanh là một thứ để nhìn.

Tay trái tôi vẫn thắt nút cỏ. Đi được một ngày, tôi để ý thấy có những nút cỏ không phải của tôi.

Chúng nằm ở những chỗ rẽ: đầu cầu treo, ngã ba có cây gạo, đỉnh mỗi quả đồi thông. Nút cỏ tranh, xoắn hai vòng, đầu cỏ chĩa về phía Khe Lá. Có cái đã khô vàng. Có cái còn xanh. Tôi cúi xuống, cầm một cái lên. Đó là kiểu nút của bà tôi. Kiểu tôi thắt.

– Cậu thắt hồi nào?

Khuê không quay lại.

– Tháng trước. – Nó nói. – Tớ đi một mình một chuyến, thắt sẵn. Lần sau cậu về, có khi cậu tự đi được một nửa.

– Mưa gió một mùa là nó trôi hết.

– Thì mỗi năm tớ thắt lại.

Tôi đứng đó, cầm cái nút cỏ khô trong tay. Rồi tôi bỏ nó vào túi áo, như Khuê đã làm ở cửa Thung Lũng Quên, và đi tiếp.

Đêm thứ ba, hai đứa ngủ dưới mái đá ven suối, chỗ chị Xuyến và tôi đã ngủ năm ngoái. Tôi không nhớ là chỗ ấy. Khuê bảo thế. Con Nút cuộn tròn bên đống lửa, ngáy khò khò như người.

– Lập Thần thấy gì? – Khuê hỏi. – Người ta bảo Lập Thần thì nhìn xa lắm.

– Hôm ấy tớ nhìn thấy đồi chè. – Tôi nói. – Tận cuối trời, phía tây.

– Thấy đường không?

– Không. Chỉ thấy đồi.

Khuê ném một cành khô vào lửa, nhìn tàn lửa bay lên.

– Thế thì cũng đủ. – Nó nói. – Cậu thấy chỗ cần về. Đường thì để tớ.

Tôi nằm ngửa nhìn lên mái đá, nghe suối chảy. Tôi nghĩ tới ông Quỳnh, tới người con trai tên Hựu mỗi Tết lên núi uống một chén trà rồi về. Tôi nghĩ một người đã đặt lên cân lòng thương con mình, rồi hai mươi ba năm sau đứng bên cột cân nhìn cháu mình không chịu buông tay, thì trong lòng người ấy còn lại cái gì. Tôi không biết. Có lẽ chính ông cũng không biết. Cân không trả lại thứ gì. Nhưng có lẽ người ta vẫn nhớ được là mình đã từng có.

Bà tôi đứng ở đầu ngõ tre ngà. Tay phải bà đã tháo băng, da chỗ bỏng nhăn nhúm, bóng như da cam héo. Bà nheo mắt nhìn tôi, nhìn Khuê, nhìn con chó vàng đang đánh hơi chân bà.

– Thằng này là thằng nào? – Bà hỏi tôi.

– Khuê, bà ạ. Bạn cháu.

Bà nhìn Khuê từ đầu tới chân, lâu, như nhìn một mẻ chè để đoán xem còn bao lâu thì tới. Khuê đứng thẳng, không cúi đầu, nhưng tôi thấy tai nó đỏ lên.

– Vào nhà. – Bà nói.

Tết ấy chưa có chè xuân. Nhưng cây chè tổ sau nhà năm nào cũng nhú một lứa búp sớm trước Tết, chỉ đủ một mẻ nhỏ để pha cúng. Ngày mồng hai, bà nhóm bếp, bắc cái chảo gang lên, gọi tôi:

– Đứng chảo.

Tôi đứng chảo. Bà ngồi trên ghế đẩu cạnh bếp, mắt nhắm. Khuê ngồi xổm bên kia, cầm quạt nan quạt lửa, như cái tối ở nhà bếp trên núi. Con Nút nằm ngủ ở cửa bếp.

Xèo xèo. Xào xạc. Mùi ngái tan dần. Mùi lá tre non. Lách tách.

Bà mở mắt. Bà bốc một nhúm chè trong chảo, nhưng bà không đưa lên miệng. Bà chìa nó ra cho Khuê.

– Mày nếm. Tới chưa?

Khuê cầm nhúm chè, nhìn tôi, nhìn bà, lúng túng như đứa trẻ bị gọi lên bảng. Rồi nó bỏ vào miệng, nhai.

– Chát. – Nó nói. – Chát quá. Cháu không biết, bà ạ.

Bà không nói gì. Bà quay sang tôi.

Tôi không nhìn chè. Tôi nghe. Tiếng lách tách trong chảo vẫn còn dày, vẫn còn ướt ở cuống. Mùi cốm non mới chớm, chưa đậm.

– Chưa, bà. – Tôi nói. – Ba hơi thở nữa.

Một. Hai. Ba. Tiếng lách tách thưa ra, giòn lên, như những giọt mưa cuối cùng trên mái ngói.

– Bây giờ.

Khuê rút củi. Tôi nhấc chảo. Bà bốc một nhúm, lần này đưa cho Khuê lần nữa.

Nó nhai. Nó ngồi im. Rồi mặt nó giãn ra, chậm lại, như mặt những người lái buôn dưới xuôi năm nào.

– Ngọt. – Nó nói. – Ở dưới cổ.

Tôi nhìn mặt nó. Đó là cách tôi nếm chè bây giờ. Bà tôi nhìn tôi nhìn nó, rồi cúi xuống, lấy tay trái gạt mấy hòn than ra khỏi bếp, không nói gì. Nhưng lúc bà đứng dậy đi vào buồng lấy ấm, tôi thấy bà đi chậm lại ở chỗ Khuê ngồi, và bàn tay trái của bà, bàn tay không bị bỏng, đặt lên vai nó một cái. Rất nhanh. Như người ta chạm vào thành chảo để thử độ nóng.

Hôm ra về, bà dúi vào tay tôi một gói giấy dó. Bên trong là sáu hạt chè tổ, vỏ nâu bóng như hạt dẻ.

– Ba hạt cho cái chị điếc tai. – Bà nói. – Ba hạt cho mày. Trồng lại. Lần này mày đừng đặt nó lên cái cân nào nữa.

– Cháu không đặt nữa đâu bà.

– Ai mà biết được. – Bà tôi nói, rồi đẩy tôi ra cổng.

Khuê đi trước, tờ giấy dán trên mo cau cầm trong tay. Con Nút chạy lăng xăng. Tôi đi sau. Ra tới đầu làng, tôi quay lại nhìn. Đồi chè Khe Lá xanh thẫm dưới nắng xuân, những hàng chè chạy vòng như đường vân trên đầu ngón tay. Bà tôi đứng ở đầu ngõ, nhỏ như một cái móc câu.

Tôi không biết đường từ đây về chỗ bà đứng. Tôi sẽ không bao giờ biết. Nhưng ở đầu ngõ đầu tiên, chỗ tôi đứng sững hồi Tết năm ngoái, có một nút cỏ tranh xoắn hai vòng, còn xanh, đầu cỏ chĩa vào ngõ tre ngà.

— Hết —

Mục lục Những thứ tôi đặt lên Cân Trời

  1. 1Vị chè8 phút
  2. 2Dãy nhà ngoại môn9 phút đọc
  3. 3Đường về10 phút đọc
  4. 4Thung Lũng Quên10 phút đọc
  5. 5Cái cân con10 phút đọc
  6. 6Nuôi cân9 phút đọc
  7. 7Thư bà9 phút đọc
  8. 8Hội Thử Cân10 phút đọc
  9. 9Đĩa cân của Khuê9 phút đọc
  10. 10Đường về Khe Lá10 phút đọc

Về truyện này

Những thứ tôi đặt lên Cân Trời là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →