AI Truyện
Những thứ tôi đặt lên Cân Trời

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Thư bà

Những thứ tôi đặt lên Cân Trời · Chương 7/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Thư bà

Thư bà tôi tới vào tháng Chạp, do ông đồ dưới chợ phiên viết hộ, chữ đẹp như in, giọng thì đúng là giọng bà.

"Bừng. Bà bị bỏng tay phải, chảo đổ, không sao. Mắt bà kém, không nhìn rõ lửa nữa. Vụ xuân năm nay lái buôn đặt trước ba tạ, bà không đứng chảo được. Mày bận thì thôi. Bà."

Tôi đọc lá thư bốn lần. "Mày bận thì thôi" là cách bà tôi gọi tôi về.

Ngoại môn được nghỉ Tết một tháng. Tôi xin thêm một tháng cho hết vụ chè xuân, được. Rồi tôi đứng ở cổng tam quan, tay nắm quai tay nải, nhìn xuống con đường lát đá dẫn xuống chân núi. Đường xuống chân núi tôi biết. Xuống đến chân núi thì sao? Rẽ trái hay rẽ phải? Qua cầu nào? Tôi nghĩ, và chỗ ấy trắng.

Khuê đứng sau lưng tôi. Tôi biết nó đứng đó từ lúc nào. Trong tay nó cầm tờ giấy vẽ đường, đã gấp nhàu.

– Tớ dắt cậu về. – Nó nói. – Tớ học thuộc rồi.

– Không cần.

– Bừng...

– Không cần. – Tôi nói lần nữa, và nghe giọng mình lạnh như nước suối tháng Chạp.

Khuê đứng im. Rồi nó gấp tờ giấy lại, cất vào ngực áo.

Người dắt tôi về là chị Xuyến.

Chị không hỏi gì. Sáng hôm sau chị đứng ở cổng tam quan, tay nải trên vai, chân quấn xà cạp, một tay cầm gậy tre. Chị bảo chị xin nghỉ rồi. Chị bảo chị chưa về quê mười mấy năm, nhân tiện đi đâu đó cũng được.

Bốn ngày đường, với tôi, là bốn ngày đi trên một con đường chưa đi bao giờ.

Tôi biết mình đã đi con đường này. Lúc lên núi năm mười ba tuổi, tôi ngồi trên xe bò. Hai năm sau đó đêm nào tôi cũng đi lại nó trong đầu. Nhưng bây giờ, mỗi khúc quanh đều mới. Cái cầu treo bắc qua vực, dây mây đã đen, ván gỗ kêu cót két, tôi nhìn nó như nhìn một thứ trong truyện. Dòng suối Đá Bạc chảy qua những tảng đá trắng như đá vôi, nước trong vắt thấy cả cá, tôi đi dọc nó hai ngày mà không lúc nào biết đoạn sau sẽ ra sao. Có những lúc tôi dừng lại, vì tự dưng thấy một tảng đá quen quen. Rồi cái quen ấy tan đi trước khi tôi kịp nắm lấy.

Tay trái tôi vẫn thắt nút cỏ. Chị Xuyến nhìn, không nói gì.

Đêm thứ hai, hai chị em ngủ dưới một mái đá ven suối, đốt một đống lửa nhỏ. Chị Xuyến ngồi nhìn lửa rất lâu, rồi nói, không nhìn tôi:

– Thằng em tôi tên là Nhì. Nó hay ăn vụng đường phèn trong hũ của mẹ tôi, ăn xong thì lấy muối bỏ vào cho đầy lại. Mẹ tôi pha nước chè đường cho khách, khách nhăn mặt. Lần nào cũng thế. Lần nào mẹ tôi cũng biết là nó.

Chị cười.

– Tôi vẫn nhớ thế. Nhớ hết. Chỉ không nhớ mặt. Lúc nhớ tới nó, tôi thấy một thằng bé con đứng ở bờ sông, mặc quần đùi xanh, nhưng chỗ mặt là một khoảng mờ. Như cái khoảng trắng của cậu.

– Chị có tiếc không?

– Có. – Chị nói. – Nhưng cậu biết lạ thế nào không? Từ hôm ở thung lũng về, tôi không còn muốn đặt nó lên Cân Trời nữa. Mười mấy năm nay, tôi không đặt vì tôi sợ mất. Bây giờ mất một nửa rồi, tôi lại thấy cái nửa còn lại quý hơn. Tôi không muốn Lập Thần nữa, Bừng ạ. Tôi muốn giữ thằng Nhì ăn vụng đường phèn.

– Thế chị ở lại Rèn Xương mãi à?

– Ở Rèn Xương thì sống được tới hai trăm tuổi. – Chị nói. – Đủ dài để nhớ một thằng bé.

Ngày thứ tư, qua bốn quả đồi thông, tôi thấy đồi chè.

Tôi không nhận ra đường. Nhưng tôi nhận ra đồi chè. Những hàng chè xanh thẫm chạy vòng quanh lưng đồi như đường vân trên đầu ngón tay, mùa đông chè đã đốn, chỉ còn trơ những bụi thấp. Tôi nhận ra mùi. Mùi đất đỏ, mùi khói bếp củi, mùi lá chè già phơi ở hiên nhà ai. Tôi nhận ra cái đình. Nhưng từ đình về nhà, tôi đứng sững ở đầu ngõ đầu tiên, rồi ngõ thứ hai, rồi ngõ thứ ba, không biết rẽ vào ngõ nào.

Chị Xuyến hỏi một bà cụ ngồi bán khoai nướng dưới gốc đa. Bà cụ nhìn tôi, tròn mắt.

– Thằng Bừng nhà bà Bảy đấy à? Lớn thế này rồi. Ngõ tre ngà kia kìa. Mày quên đường à con?

– Dạ. Cháu quên.

Bà tôi ngồi bên bếp. Bếp không đỏ lửa, chỉ có mấy hòn than ủ trong tro. Tay phải bà quấn một mảnh vải trắng từ cổ tay tới khuỷu. Lưng bà còng hơn, như cái móc câu đã bị ai bẻ cong thêm. Bà ngẩng lên nhìn tôi, nheo mắt, lâu lắm mới nhận ra.

– Lớn rồi. – Bà nói. Rồi bà nhìn ra sau lưng tôi. – Ai đây?

– Chị Xuyến, sư tỷ của cháu. Chị dắt cháu về.

Bà tôi không hỏi vì sao tôi phải có người dắt. Bà chỉ đứng dậy, đi vào buồng, lấy ra hai cái chăn bông, một cái đưa cho chị Xuyến.

Đêm đầu tiên ở nhà, bà dắt tôi ra sau vườn, tới gốc cây chè tổ. Trăng mười sáu sáng vằng vặc. Thân cây to hai người ôm, vỏ xám lốm đốm, gốc trồi lên những cái rễ to như cánh tay, ngoằn ngoèo như rắn. Bà đặt bàn tay trái lên thân cây, như đặt lên vai một người quen.

– Cây này ông cố mày nuôi. – Bà nói. – Rồi ông nội mày nuôi. Rồi bố mày. Rồi bà. Không ai đặt nó lên cái cân nào. Nó cứ đứng đây, ra búp, ra hoa, ra hạt. Người đi thì cây ở lại.

– Bà ơi, cái súng cao su bố cháu làm, cháu đặt lên Cân làng mà nó không xuống.

– Bà biết. Bà đứng ở cổng đình.

– Cháu tưởng cháu thương nó nhất.

Bà tôi im một lúc. Gió đêm thổi qua tán chè, lá xạc xào.

– Bố mày làm cái súng ấy trong một buổi chiều. – Bà nói. – Còn bố mày dắt mày lên đồi chè mỗi sáng, năm năm trời, chỉ cho mày búp nào hái, búp nào để. Cái mày thương là cái năm năm ấy, chứ đâu phải cái chạc ổi. Mày đặt cái chạc ổi thì nó nhẹ là phải.

Tôi đứng im. Tôi không nhớ là bố tôi dắt tôi lên đồi mỗi sáng. Rồi tôi nhớ ra. Nhớ bàn tay to, chai sạn, cầm tay tôi ngắt một tôm hai lá. Nhớ tiếng ông cười khi tôi ngắt nhầm cả cành. Cái ấy chưa bao giờ nằm trên đĩa cân nào. Nó vẫn ở đây.

Vụ chè xuân năm ấy, tôi đứng chảo.

Mẻ đầu tiên, tôi đổ ba cân búp vào cái chảo gang to của bà, đảo bằng đôi đũa cả dài như cánh tay. Bà ngồi trên cái ghế đẩu cạnh bếp, tay trái chống gậy, mắt nhắm. Bà không nhìn được lửa nữa. Bà chỉ nghe.

Xèo xèo. Xào xạc. Mùi ngái tan dần. Lách tách.

– Rút củi. – Tôi nói.

– Chưa. – Bà nói, mắt vẫn nhắm. – Mày nghe lách tách thì đợi thêm ba hơi thở. Lách tách là chè bắt đầu khô ở mép búp. Phải chờ nó khô vào tới cuống. Lúc ấy tiếng nó giòn hơn, thưa hơn, như mưa sắp tạnh.

Tôi đợi. Một. Hai. Ba. Tiếng lách tách thưa ra, giòn hơn, như những giọt mưa cuối cùng trên mái ngói.

– Bây giờ. – Bà nói.

Tôi rút củi. Bà bốc một nhúm chè bằng tay trái, thả vào miệng, nhai rất lâu.

– Được. – Bà nói.

Đó là lần đầu tiên trong đời bà tôi khen tôi.

Ba tạ chè xuân, tôi sao trong hai mươi ngày, bà ngồi cạnh, nghe. Có những mẻ bà bảo sớm, có những mẻ bà bảo muộn. Tới mẻ thứ mười lăm thì bà không nói gì nữa, chỉ ngồi đó, nhai chè, gật đầu. Chị Xuyến đi hái chè cùng mấy bà trong làng, học được cách hái một tôm hai lá, học được cả cách thắt nút cỏ hai vòng. Mấy bà trêu chị là người trên núi xuống mà tay hái chè nhanh như gái Khe Lá.

Có một buổi chiều, tôi đứng nghỉ ở hiên, nhìn ra đồi chè thấy chị Xuyến đứng giữa hàng, nón lá sụp xuống trán, hai tay hái thoăn thoắt. Hết một hàng, chị cúi xuống, rút hai ngọn cỏ tranh, xoắn lại, thắt một nút hai vòng, đầu cỏ chĩa sang hàng bên. Rồi chị đứng thẳng lên, nhìn cái nút ấy một lúc lâu, như nhìn một thứ gì lạ. Tối về chị bảo tôi, ở quê chị người ta không thắt nút, người ta cắm que. Chị bảo cắm que thì gió làm đổ, thắt nút thì cỏ còn sống, còn mọc tiếp. Chị bảo chị thích kiểu thắt nút hơn.

Một tối, ngồi bên bếp, tôi kể với bà chuyện Khuê. Kể hết, từ cái xe bò, ông chú, cái cân con, gói chè. Bà ngồi im nghe, tay trái xoay xoay cái chén hạt mít.

– Mày giận nó. – Bà nói khi tôi kể xong.

– Cháu không biết nó thật hay giả, bà.

Bà tôi uống một ngụm chè, nhai cả bã.

– Mẻ chè nào chả có lúc đầu ngái. – Bà nói. – Mày đứng chảo mà cứ ngửi cái lúc đầu thì mày đổ cả chảo đi à? Cái gì chả có lúc đầu. Mày nhìn cái lúc sau.

Tôi ngồi im rất lâu, nhìn mấy hòn than đỏ trong tro.

Giữa tháng Hai, hết vụ chè, chị Xuyến dắt tôi lên núi. Bà tiễn ra tận đầu ngõ tre ngà, tay trái chống gậy, tay phải vẫn quấn vải. Bà không dặn gì. Bà chỉ nhét vào tay nải tôi một gói chè, chè tôi sao, mẻ thứ mười lăm.

Ở chân núi Mỏ Hạc, chỗ con đường lát đá bắt đầu, có một người ngồi trên tảng đá ven đường, áo the thiên thanh đã bạc màu, đầu không cài trâm. Thấy chúng tôi, Khuê đứng dậy.

– Cậu ngồi đây bao lâu rồi? – Chị Xuyến hỏi.

– Ba ngày. – Khuê nói. – Tớ không biết hôm nào các cậu về.

Nó nhìn tôi. Trong tay nó vẫn là cái gói giấy dó gấp bốn, buộc lạt, lạt đã sờn. Gói chè đầu tiên tôi sao.

– Tớ chưa uống. – Nó nói. – Tớ để dành.

Tôi không biết nói gì. Chị Xuyến đi lên trước, để hai đứa đứng lại.

Hôm sau, sân Tàng Kinh Các treo bảng bốc thăm vòng đấu Hội Thử Cân. Ba mươi hai người ghi danh. Tên tôi ở nhánh dưới. Tên Khuê ở nhánh trên. Nếu cả hai cùng thắng ba trận thì cùng vào bốn người cuối. Và bốn người cuối thì sớm muộn cũng phải gặp nhau.

— Hết chương 7 —

Mục lục Những thứ tôi đặt lên Cân Trời

  1. 1Vị chè8 phút
  2. 2Dãy nhà ngoại môn9 phút đọc
  3. 3Đường về10 phút đọc
  4. 4Thung Lũng Quên10 phút đọc
  5. 5Cái cân con10 phút đọc
  6. 6Nuôi cân9 phút đọc
  7. 7Thư bà9 phút đọc
  8. 8Hội Thử Cân10 phút đọc
  9. 9Đĩa cân của Khuê9 phút đọc
  10. 10Đường về Khe Lá10 phút đọc

Về truyện này

Những thứ tôi đặt lên Cân Trời là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →