Chương 4: Thung Lũng Quên
Bà tôi dạy tôi buộc nút cỏ từ năm tôi lên năm, ở đồi chè.
Đồi chè Khe Lá trồng theo hàng, hàng nọ giống hệt hàng kia, nhìn từ xa như những đường vân xanh trên lưng đồi. Người hái chè đi dọc hàng, hái hết hàng này sang hàng khác, nhưng chỉ cần ngồi nghỉ uống bát nước là không còn biết mình hái tới đâu. Nên ai cũng buộc nút cỏ. Hái hết một hàng thì rút hai ngọn cỏ tranh ở đầu hàng, xoắn lại, thắt một nút. Bà tôi thắt nút kiểu riêng, hai vòng, đầu cỏ chĩa về phía hàng sẽ hái tiếp.
Từ hôm đặt đường về nhà lên Cân Đá, tôi bắt đầu thắt nút cỏ lại.
Không phải vì tôi lạc. Đường quanh núi Mỏ Hạc tôi vẫn nhớ. Nhưng một buổi sáng, đi hái thuốc xa hơn mọi ngày, tôi đứng ở một ngã ba trong rừng và tự dưng sợ. Sợ cái khoảng trắng trong đầu sẽ lan ra. Tôi cúi xuống, rút hai ngọn cỏ, thắt một nút, đầu cỏ chĩa về hướng tôi vừa đến. Rồi cứ một trăm bước, tôi lại thắt. Về tới phòng, tôi vẫn thắt.
Một năm sau, tay tôi tự làm việc ấy. Đi đâu, cứ đủ một trăm bước, bàn tay trái tôi tự cúi xuống, tự rút cỏ, tự thắt, trong khi đầu tôi nghĩ chuyện khác. Khuê trêu tôi là con chó đánh dấu đường. Chị Xuyến không trêu. Chị chỉ nhìn.
Mùa xuân năm tôi mười sáu tuổi, chị Xuyến dẫn tôi và Khuê vào Thung Lũng Quên.
Thung lũng nằm ở phía bắc núi Mỏ Hạc, quanh năm sương phủ dày đặc như bông. Mỗi năm chỉ có ba ngày đầu tháng Ba, sương tan đủ để người vào. Bên trong có cỏ Hồi Tâm, thứ cỏ lá bạc mà Ngọc Cân Tông dùng làm thuốc an thần cho những người vừa đặt một ký ức lớn lên cân, để họ khỏi phát điên trong mấy tháng đầu. Mỗi năm tông môn cử vài đội vào hái.
Luật của Thung Lũng Quên chỉ có một điều, ai cũng phải thuộc: ở trong đó qua chạng vạng thì bắt đầu quên. Quên những chuyện gần nhất trước, rồi lùi dần về những chuyện xa. Ra được trước bình minh thì ba ngày sau nhớ lại hết. Không ra được thì đến sáng, người ta quên cả tên mình, và ở lại đó mãi, đi lang thang trong sương.
– Còn một điều nữa. – Chị Xuyến nói, lúc ba người đứng ở cửa thung lũng, trước một bức tường sương trắng xóa. – Trong đó có hoa Lưu Ảnh. Hoa màu tím, mọc ven suối. Ai nhìn vào nó thì thấy lại một ký ức mình muốn thấy, rõ như đang sống lại. Đừng nhìn.
– Sao lại đừng ạ?
– Vì nó lấy luôn cái ký ức nó cho mình xem. – Chị nói. – Không trả lại. Thung lũng mượn, hoa thì ăn.
Chúng tôi đi vào.
Bên trong không giống thung lũng nào tôi từng thấy. Sương không tan hẳn, chỉ mỏng đi, lơ lửng ngang ngực, cây cối mọc lên từ trong sương như mọc từ mặt sữa. Mọi thứ đều xám bạc: cỏ bạc, lá cây bạc, cả những hòn đá ven suối cũng bạc như phủ sương muối. Không có tiếng chim. Chỉ có tiếng suối chảy, rất khẽ, từ đâu đó không nhìn thấy.
Và đường đi thay đổi. Chị Xuyến bảo thế, và tôi thấy thật. Đi qua một tảng đá hình con cóc, đi thêm năm mươi bước, quay lại thì tảng đá không còn ở đó. Không phải vì sương che. Nó không còn ở đó. Bản đồ vô dụng. La bàn quay vòng.
Tay trái tôi vẫn đếm bước, vẫn cúi xuống, vẫn thắt nút cỏ. Những nút cỏ thì không biến mất. Tôi quay lại xem, chúng vẫn nằm đó, đầu cỏ chĩa về phía cửa thung lũng, xám bạc như mọi thứ khác nhưng còn nguyên.
– Hay đấy. – Chị Xuyến nói, nhìn cái nút cỏ đầu tiên. Rồi chị không nói gì nữa.
Chúng tôi hái cỏ Hồi Tâm suốt buổi sáng. Tới trưa, giỏ ai cũng đầy một nửa.
Buổi sáng ấy Khuê nói nhiều hơn mọi khi. Nó hỏi tôi cây chè ở nhà tôi ra hoa vào tháng nào, hoa có thơm không, bà tôi có bao giờ đặt cái gì lên cân không. Tôi bảo bà tôi không có căn, cả đời chưa đứng trước cân bao giờ. Khuê bảo thế thì sướng. Rồi nó nói, như nói một mình: "Tớ muốn tìm một cái gì để thương mà không ai bảo." Tôi tưởng nó đùa.
Đầu giờ chiều, Khuê không thấy đâu nữa.
Lúc ấy chúng tôi đang hái ở một bãi cỏ ven suối. Khuê ở cách tôi chừng hai chục bước, tôi vẫn nghe tiếng nó lẩm nhẩm hát. Rồi tiếng hát tắt. Tôi ngẩng lên. Chỗ Khuê đứng chỉ còn sương.
Chúng tôi tìm nó suốt buổi chiều. Gọi, khàn cả giọng. Thung lũng nuốt tiếng gọi như bông nuốt nước. Chị Xuyến dẫn tôi đi theo dòng suối, lên rồi xuống, rẽ vào mấy cái khe nhỏ. Mặt trời, dù không nhìn thấy, đã bắt đầu ngả, vì sương chuyển dần từ màu bạc sang màu xám tro.
– Chạng vạng tới rồi. – Chị Xuyến nói. – Bừng, cậu ra đi. Đi theo nút cỏ của cậu.
– Còn Khuê?
– Tôi tìm. Tôi vào đây hai lần rồi.
– Chị điếc một tai. Chị gọi nó cũng không nghe được nó đáp.
Chị nhìn tôi, nhíu mày. Rồi chị gật đầu.
Lúc ấy là lúc tôi bắt đầu quên.
Không có cảm giác gì cả. Chỉ là tôi đang nghĩ về một chuyện, rồi tôi không nhớ mình đang nghĩ gì. Tôi nhìn cái giỏ cỏ trên tay, không nhớ vì sao mình hái nó. Tôi nhìn chị Xuyến, biết chị là người quen, biết chị đáng tin, nhưng tên chị thì phải mất mấy hơi thở mới nhớ ra.
Tay trái tôi vẫn cúi xuống, vẫn thắt nút. Tôi nhìn nó làm, như nhìn tay người khác. Thung lũng lấy đi những gì tôi nhớ. Nó không lấy được những gì tay tôi đã quen.
Chúng tôi tìm thấy Khuê ở một khúc suối rộng, nơi sương đã đặc lại như sữa đặc. Nó ngồi bó gối trên một tảng đá giữa dòng, nhìn chằm chằm xuống mặt nước. Ven suối, dọc bờ bên kia, có những bông hoa nhỏ màu tím, cánh mỏng như cánh chuồn chuồn, phát sáng mờ mờ trong bóng tối.
– Khuê!
Nó ngẩng lên. Mặt nó trống rỗng, như mặt anh nội môn cầm tấm tranh chân dung mẹ trên đỉnh núi năm nào.
– Cậu là ai? – Khuê hỏi.
Tôi lội xuống suối. Nước lạnh buốt, chảy xiết tới đầu gối. Tôi trèo lên tảng đá, ngồi xuống cạnh nó.
– Tớ là Bừng.
Nó nhìn tôi, nhìn lâu. Rồi nó lắc đầu.
– Tớ không biết ai tên Bừng.
– Không sao. – Tôi nói. Tôi chìa tay ra. – Tớ dẫn cậu về.
Tôi không biết tại sao tôi nói câu ấy. Có lẽ vì đó là câu duy nhất tôi còn giữ được trong đầu lúc ấy, câu ai đó đã nói với tôi, ở đâu đó, một lần nào đó, mà tôi không nhớ là ai.
Khuê nhìn bàn tay tôi. Rồi nó đặt tay nó vào.
Khi tôi quay vào bờ, chị Xuyến không đứng ở chỗ cũ nữa. Chị đã sang bờ bên kia, quỳ trước những bông hoa tím. Mặt chị cúi sát xuống, ánh tím hắt lên má chị, lên đôi mắt mở to, ướt đẫm.
– Chị Xuyến! – Tôi gọi. Tôi nhớ ra tên chị. Tôi không nhớ vì sao chị không được nhìn bông hoa. Tôi chỉ nhớ là không được.
Chị không quay lại. Tôi gọi lần nữa, gọi vào phía tai phải của chị. Lần này chị giật mình. Chị đứng dậy, loạng choạng lùi xa khỏi bông hoa, lội qua suối về phía chúng tôi. Chị không nói gì.
Ba người đi ra khỏi Thung Lũng Quên trong bóng tối hoàn toàn. Tôi đi trước, tay phải dắt Khuê, Khuê dắt chị Xuyến. Tôi không nhìn thấy gì. Tôi cúi người, tay trái quờ quạng dưới đất, tìm nút cỏ. Tìm thấy rồi, ngón tay lần theo hướng đầu cỏ chĩa, đi một trăm bước, cúi xuống tìm nút tiếp theo. Có lúc tìm mãi không thấy, phải bò lùi lại, sờ từng bụi cỏ. Có lúc Khuê dừng lại, hỏi tôi là ai, hỏi đây là đâu, rồi đi tiếp khi tôi kéo tay.
Tôi đếm được ba trăm hai mươi mốt nút cỏ. Đó là những gì tôi nhớ về đêm ấy. Không phải con số. Là cảm giác của từng nút cỏ dưới đầu ngón tay, thô ráp, ướt sương, xoắn hai vòng như bà tôi dạy.
Khi chúng tôi bước ra khỏi bức tường sương, trời phía đông đã hửng xám. Ba người ngã vật xuống bãi cỏ ở cửa thung lũng. Tôi nằm ngửa, nhìn bầu trời đang chuyển từ đen sang xanh thẫm, và từng chút, từng chút, những thứ đã quên bắt đầu nhỏ giọt trở về, như nước rỉ từ vách đá.
Khuê nhớ lại sớm nhất. Nó ngồi dậy, nhìn tay mình, nhìn tôi.
– Cậu dắt tớ. – Nó nói, giọng khàn đặc.
– Ừ.
– Tớ không nhớ cậu là ai, mà tớ vẫn đi theo.
– Ừ.
Khuê nhìn tôi rất lâu, như đêm tôi kể chuyện đặt đường về nhà. Rồi nó cúi xuống, nhặt một cái nút cỏ nằm cạnh chân, nút cuối cùng tôi thắt ở cửa thung lũng, bỏ vào túi áo. Nó không giải thích.
Chị Xuyến ngồi riêng một chỗ, lưng quay về phía chúng tôi, nhìn mặt trời lên. Một lúc lâu, chị nói, không quay lại:
– Tôi nhìn vào hoa.
Tôi không nói gì. Khuê cũng không.
– Mười một năm tôi không đặt nó lên Cân Trời. – Chị nói tiếp. – Tôi nghĩ mình nhìn thêm một lần thôi, nhìn cho rõ mặt nó, rồi có khi tôi đặt được. – Chị cười, một tiếng cười ngắn, khô như tiếng que củi gãy. – Giờ tôi nhớ nó cười thế nào. Nhớ nó gọi tôi thế nào. Nhớ cái hôm ở bờ sông. Nhưng mặt nó thì không còn. Hoa ăn rồi. Thung lũng không trả.
– Chị Xuyến...
– Mười một năm tôi giữ. – Chị nói. – Cái cân không lấy được. Một bông hoa lấy mất.
Người ra đón chúng tôi ở cửa thung lũng là trưởng lão Phí Đăng Quỳnh. Ông đứng cạnh con ngựa ô, áo dài đen ướt sương, như đã đứng ở đó cả đêm. Ông nhìn Khuê. Rồi ông nhìn tôi. Rồi ông nhìn xuống bàn tay tôi và bàn tay Khuê, lúc ấy vẫn còn nắm lấy nhau, chưa ai nhớ ra là phải buông.
Tôi thấy trong mắt ông một cái gì đó. Lúc ấy tôi không biết gọi nó là gì. Bây giờ thì tôi biết. Đó là cái nhìn của người làm vườn khi thấy cái cây mình trồng vừa ra lộc.
— Hết chương 4 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe