Chương 3: Đường về
Mùa hè năm tôi mười lăm tuổi, tôi đứng trước Cân Đá lần thứ hai trong một buổi sáng, và đĩa cân vẫn chưa chạm gờ.
Cân Đá dựng giữa một khoảng sân lộ thiên ở lưng chừng núi, chung quanh là vách đá phủ dương xỉ. Nó không to bằng Cân Trời, nhưng cũng cao gấp đôi người, đòn cân bằng một phiến đá xanh nguyên khối, hai đĩa cân đẽo từ đá ong, mặt đĩa lõm xuống, nhẵn bóng vì bao nhiêu đời người đã đứng lên. Chỉ cần một vị trưởng lão chứng giám là ai đủ chín nấc Mở Mạch cũng lên được, không cần chờ lễ.
Hôm ấy người chứng giám là bà trưởng lão Ôn, một bà già ít nói, ngồi trên cái ghế mây đặt dưới gốc cây sau, tay lần một chuỗi hạt bồ đề. Chị Xuyến đi theo tôi, đứng tựa vách đá, khoanh tay.
Lần thứ nhất, tôi đặt lên ký ức về buổi chiều bố tôi dạy tôi bắn súng cao su ở bờ ao. Đĩa cân lún xuống chừng một ngón tay rồi đứng lại. Tôi nhấc ký ức ấy về. Luật cho phép: chừng nào chưa buông tay khỏi đĩa cân thì thứ đặt lên vẫn còn là của mình.
Lần thứ hai, tôi đặt lên cái mùi cốm non của chè mới sao. Tôi tưởng nó sẽ nặng, vì nó là thứ cuối cùng tôi còn giữ được của cái chảo gang. Đĩa cân lún xuống thêm một chút, lưng chừng, rồi lại đứng.
Tôi nhấc về, đứng thở. Mồ hôi chảy ướt lưng áo.
– Cậu biết vì sao không? – Chị Xuyến hỏi từ chỗ vách đá.
– Vì căn cháu kém.
– Vì cậu đang đặt những thứ cậu nghĩ là mình đặt được. – Chị nói. – Cái gì đặt được thì nhẹ.
Bà trưởng lão Ôn lần chuỗi hạt, không nói gì. Một con chim chích chòe đậu trên đòn cân đá, hót một tràng rồi bay đi.
Tôi nhắm mắt. Tôi tự hỏi tôi muốn gì nhất. Không phải muốn lên Rèn Xương. Muốn gì nhất, lúc này, ngay đây, trên cái sân đá lưng chừng núi này.
Tôi muốn về nhà.
Hai năm ở núi Mỏ Hạc, tôi chưa về lần nào. Ngoại môn được nghỉ mỗi năm một tháng vào dịp Tết, nhưng hai cái Tết qua tôi đều ở lại, vì bận cây chè, vì nấc tu còn chậm, vì đường về Khe Lá mất bốn ngày đi bộ. Nhưng đêm nào tôi cũng đi con đường ấy trong đầu. Từ cổng tam quan Ngọc Cân Tông xuống chân núi, rẽ trái qua cầu treo, men theo suối Đá Bạc hai ngày, đến ngã ba có cây gạo thì rẽ phải, qua bốn quả đồi thông, rồi thấy đồi chè Khe Lá. Từ đầu làng, đi qua đình, qua giếng, rẽ vào ngõ có bụi tre ngà, qua cây chè tổ, là nhà tôi. Tôi biết từng khúc quanh. Tôi biết chỗ nào suối cạn, chỗ nào có đá trơn. Tôi biết ngõ nhà tôi có bao nhiêu bậc đá.
Cái đường ấy là thứ tôi muốn nhất. Và vì thế, tôi hiểu ra, nó là thứ nặng nhất.
– Chị Xuyến. – Tôi nói, không mở mắt. – Nếu cháu đặt cái đường về nhà thì sao?
Im lặng một lúc lâu.
– Thì cậu không bao giờ tự tìm được đường về nhà nữa. – Chị nói. – Ai vẽ bản đồ cho cậu, cậu nhìn xong là quên. Ai chỉ đường, cậu nghe xong là quên. Đứng ở đầu làng cậu cũng không biết nhà cậu ở ngõ nào. Phải có người dắt. Lần nào cũng phải có người dắt.
– Nhưng vẫn về được.
– Vẫn về được nếu có người dắt.
– Thế thì...
– Ngu. – Chị Xuyến nói. Lần này giọng chị không cay. Chị nói chậm, như người ta nói với đứa em đang đứng ở mép nước. – Lần thứ hai rồi đấy, Bừng.
Tôi mở mắt nhìn chị. Chị không nhìn tôi. Chị nhìn xuống thung lũng, nơi có một dòng suối nhỏ chảy qua những ruộng bậc thang, sáng lấp lánh dưới nắng.
Tôi đặt hai tay lên đĩa đá. Tôi nghĩ về con đường. Cổng tam quan, cầu treo, suối Đá Bạc, cây gạo, bốn quả đồi thông, đồi chè, đình, giếng, ngõ tre ngà, cây chè tổ. Bao nhiêu bậc đá. Tôi đặt nó xuống.
Đĩa cân hạ. Không chậm như lần Mở Mạch ở Cân làng. Nhanh, nặng, như có ai thả một cối đá xuống. Đĩa đá ong chạm gờ một tiếng cộp khô khốc, làm con chích chòe đang đậu trên cây sau giật mình bay vụt.
Tôi đứng đó, hai tay vẫn đặt trên đĩa. Chưa buông. Tôi vẫn còn có thể nhấc nó về.
Tôi nghĩ về bà. Bà đứng ở cổng đình, hỏi: "Mày nghĩ kỹ chưa?"
Tôi buông tay.
Có một cái gì đó rút ra khỏi đầu tôi, như người ta rút một sợi chỉ ra khỏi tấm vải dệt, kéo theo cả một đường dài những mũi khâu. Rồi một luồng nóng chạy dọc sống lưng, lan vào xương, xương sườn, xương tay, xương chân. Tôi nghe được xương mình kêu răng rắc như cành cây khô bẻ, nhưng không đau. Đó là Rèn Xương.
Bà trưởng lão Ôn đứng dậy khỏi ghế mây, đi tới, đặt bàn tay khô như lá lên vai tôi một lúc, rồi đi xuống núi, không nói câu nào. Chị Xuyến vẫn đứng tựa vách đá.
Tôi thử nghĩ về Khe Lá. Tôi nhớ đồi chè. Tôi nhớ cây chè tổ, nhớ cái chảo gang, nhớ bà còng lưng ngồi bên bếp. Tôi nhớ hết. Nhưng khi tôi cố nghĩ xem từ đây về đó đi đường nào, thì như có người xé mất một trang sách. Chỗ ấy trắng. Không đen, không tối, chỉ trắng, như một khoảng sương mù dày đặc, mắt không nhìn xuyên được. Tôi thử nghĩ ngược lại, từ đình làng về nhà mình. Đình thì tôi nhớ. Nhà thì tôi nhớ. Nhưng ở giữa là sương.
Tôi ngồi phịch xuống mặt đá.
Chị Xuyến bước tới, ngồi xuống cạnh tôi. Chị không an ủi. Chị chỉ ngồi đó, cái tai phải hướng về phía tôi, chờ.
– Chị ơi. – Tôi nói một lúc sau. – Đường từ đây về phòng cháu, cháu vẫn nhớ.
– Đây không phải nhà cậu. – Chị nói.
Chiều hôm ấy tôi viết thư cho bà. Người đưa thư của tông môn mỗi tháng xuống núi một lần, đi khắp các làng trong vùng, chỉ cần ghi "Khe Lá, bà Bảy sao chè" là tới. Tôi viết rằng cháu đã lên Rèn Xương, xương cứng hơn, bê được một thúng đá. Viết tới đó thì tôi ngừng. Tôi viết thêm một dòng: "Cháu đặt đường về nhà lên cân rồi, bà ạ." Rồi tôi ngồi nhìn dòng chữ ấy rất lâu, lấy mực bôi đi, bôi tới khi nó thành một vệt đen như vết than. Bà không biết chữ, thư nào cũng phải nhờ ông đồ dưới chợ đọc hộ. Tôi không muốn bà nghe câu ấy từ miệng một người lạ.
Tôi gấp thư lại, ghi ngoài bìa: "Khe Lá, bà Bảy sao chè." Mấy chữ ấy tôi viết được. Tên làng, tên bà, tôi vẫn nhớ. Chỉ là không biết đi đường nào để tới.
Đêm ấy Khuê nghe chuyện. Nó ngồi trên phản, nhìn tôi rất lâu, cái nhìn của người vừa thấy ai đó nhảy xuống vực mà không hiểu vì sao.
– Cậu đặt cái đường về nhà.
– Ừ.
– Để làm gì?
– Để lên Rèn Xương.
– Không, ý tớ là... – Khuê bỏ lửng câu. Nó đứng dậy, đi ra cửa sổ, nhìn ra cây chè con của tôi đã cao ngang đầu gối, lá xanh đậm, bóng như phết dầu. – Cậu làm thế nào mà đặt được? Tớ không hiểu. Tớ không bao giờ đặt được thứ như thế.
– Vì cậu chưa cần.
Khuê quay lại. Mặt nó lạ lắm. Tôi không đọc được.
– Bừng, – nó nói, – lúc nào cậu muốn về, tớ dẫn cậu về.
Tôi cười.
– Cậu biết đường về Khe Lá à?
– Tớ sẽ học. – Khuê nói. Không cười.
Mùa thu năm ấy, Khuê lên Cân Trời.
Nó mười sáu tuổi, đã đủ chín nấc Rèn Xương, là đứa trẻ nhất từng lên Lễ Cân trong mấy chục năm. Cả tông môn kéo lên đỉnh Mỏ Hạc để xem. Đệ tử dãy nhà thứ nhất xì xào rằng nhà họ Phí đời nào cũng có một người Kết Đan, rằng Khuê sẽ là người tiếp theo, rằng với cái căn nổi lơ lửng ấy thì ngưỡng Lập Thần với nó chỉ như ngưỡng Mở Mạch với người thường.
Khuê bước lên đĩa cân trống, mặc áo the thiên thanh mới, đầu cài trâm ngọc. Trưởng lão Phí Đăng Quỳnh đứng cạnh cột cân, tay cầm thước ngà.
Khuê đặt lên thanh kiếm nó dùng ba năm nay. Đĩa cân không động.
Nó đặt lên miếng ngọc bội to nhất trong hòm. Đĩa cân không động.
Nó đặt lên tình thân với con ngựa ô nó nuôi từ bé. Đĩa cân rung một cái rất khẽ, rồi đứng im.
Tiếng xì xào trong đám đông bắt đầu đổi giọng.
Khuê đứng giữa đĩa đồng rộng như sân phơi thóc, nhắm mắt rất lâu. Gió rít qua những mắt xích. Rồi nó đặt lên một thứ mà sau này nó kể với tôi: ký ức về buổi tang bố nó, năm nó lên sáu. Đĩa cân lún xuống, lún chừng một gang tay, rồi đứng đó, lơ lửng, cách gờ còn xa.
Trưởng lão Quỳnh gõ thước ngà vào cột cân. Không phải tiếng boong ngân dài. Một tiếng cạch ngắn, khô.
– Xuống. – Ông nói.
Khuê nhấc ký ức về, bước xuống. Mặt nó trắng bệch. Nó đi xuyên qua đám đông, không nhìn ai, đi thẳng xuống núi. Tôi chạy theo, nhưng đám đông dày quá, tới khi tôi ra được thì nó đã khuất.
Đêm ấy nó về phòng rất khuya, nằm quay mặt vào vách. Tôi giả vờ ngủ. Một lúc lâu sau, có tiếng gõ cửa rất khẽ. Khuê dậy, ra ngoài, khép cửa lại sau lưng. Qua khe cửa, tôi nghe thấy hai giọng nói, thấp, gần như thì thầm. Một giọng là của Khuê. Giọng kia trầm, đều, không lên không xuống, cái giọng tôi đã nghe gọi tên từng người trên đỉnh núi chiều nay.
– Chú, cháu không...
– Còn hai năm. – Giọng trưởng lão Quỳnh nói. – Nhà họ Phí, con trai trưởng mười tám tuổi chưa Lập Thần thì không được ghi tên vào gia phả nối dõi. Cháu biết luật.
– Cháu biết. Nhưng cháu không muốn làm thế với...
– Cháu không có gì để đặt. – Giọng ấy nói, vẫn đều đều. – Thì phải nuôi.
Tiếng bước chân xa dần. Cửa phòng mở ra, Khuê bước vào, nằm xuống phản, quay mặt vào vách như cũ. Tôi nằm im trong bóng tối, mắt mở, nghe tiếng thông reo bên ngoài, và không hiểu chữ "nuôi" ấy là nuôi cái gì.
— Hết chương 3 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe