Chương 2: Dãy nhà ngoại môn
– Cậu là thằng đặt vị chè đấy hả? – Sư tỷ Lục Thị Xuyến hỏi, xoay nửa người, chìa tai phải về phía tôi. – Ngu.
Đó là câu đầu tiên chị nói với tôi. Hôm ấy là ngày thứ hai tôi ở núi Mỏ Hạc, bảy đứa mới lên được dẫn ra Vườn Mây, khu vườn thuốc trải dài trên mấy bậc đất ở sườn tây, để nhận việc. Chị Xuyến là người quản ngoại môn làm vườn. Chị hai mươi tư tuổi, người gầy và rắn như cây sào, tóc buộc túm sau gáy bằng sợi lạt, cổ tay quấn vải. Tai trái chị điếc. Chị đã đặt nó lên Cân Đá tám năm trước, để lên Rèn Xương.
– Sao lại ngu ạ?
– Vì cậu đặt thứ cậu sống bằng nó. – Chị nói. – Người khôn đặt thứ mình quý mà không cần. Cậu đặt thứ mình cần. Lần sau cậu còn gì để đặt?
Chị quay đi, phát cho mỗi đứa một cái cuốc con và một cái giỏ tre. Tôi đứng đó, cầm cái cuốc, nghĩ mãi câu chị nói. Đến tận bây giờ tôi vẫn còn nghĩ.
Ngọc Cân Tông chiếm cả núi Mỏ Hạc. Chân núi là ruộng và vườn. Lưng chừng núi là ba dãy nhà ngoại môn lợp ngói mũi hài, xây bằng gỗ lim đã đen bóng. Cao hơn nữa là nội môn, là Cân Đá, cái cân bằng đá xanh dựng ở một khoảng sân lộ thiên, nơi người ta lên Rèn Xương. Trên cùng, trên chính cái mỏ hạc chìa ra lưng chừng trời, là Cân Trời.
Tôi chưa thấy Cân Trời bao giờ, nhưng ai cũng tả. Nó là cân đồng to nhất thiên hạ, đòn cân dài bằng mười người nằm nối nhau, hai đĩa cân to như hai cái sân phơi thóc. Lên Lập Thần thì phải lên đó. Người giữ nó là trưởng lão Phí Đăng Quỳnh.
Tôi được xếp ở cùng phòng với Khuê.
Chuyện ấy lạ. Khuê căn tốt, quả cân đồng cầm trong tay nó nổi lơ lửng như bong bóng xà phòng. Đệ tử căn tốt ở dãy nhà thứ nhất, gần giếng, gần nhà ăn, có giường gỗ và chăn bông. Tôi bị xếp ở dãy thứ ba, sát vách núi, phòng nhỏ, chỉ có hai cái phản tre. Thế mà ngày thứ ba, Khuê vác cái tay nải đến, ném lên phản bên kia.
– Tớ xin đổi. – Nó nói, cười. – Dãy một ồn lắm. Toàn đứa khoe nhà mình có bao nhiêu ruộng. Ở với cậu vui hơn.
– Tớ có gì vui đâu.
– Cậu là đứa duy nhất trên núi này không nếm được vị gì. – Khuê nói. – Thế là vui rồi.
Thế là chúng tôi ở chung.
Tối hôm ấy, Khuê dốc cái tay nải ra phản: một hộp mứt gừng, một gói ô mai, hai cái áo bông, một con dao nhỏ cán ngà, một hộp mực tàu. Nó chia đôi hộp mứt gừng, đẩy một nửa sang phản tôi. Tôi bảo tôi không nếm được, ăn cũng phí. Nó nghĩ một lúc rồi bảo thế thì cậu ăn cho ấm bụng, gừng thì vẫn cay, mà cay không phải vị, cay là nóng. Tôi bỏ một miếng vào miệng. Nó nói đúng. Tôi không thấy ngọt, nhưng thấy một luồng nóng chạy từ lưỡi xuống ngực, như tia lửa bén vào rơm.
Đêm ấy tôi ngồi tu tới gà gáy, Khuê ngủ say như chết bên kia phòng, chăn đạp tung xuống đất. Gần sáng, tôi nhặt chăn đắp lại cho nó. Nó ú ớ trong mơ, gọi một cái tên nghe như tên con ngựa.
Tôi học được luật tu ở Ngọc Cân Tông trong mấy tháng đầu, phần lớn từ chị Xuyến, vì chị giảng ngắn và không nói lại lần hai. Trong một cảnh giới, người ta ngồi hút linh khí, chuyển nó chạy trong mạch, mỗi lần mạch đầy thêm một nấc. Chín nấc là hết cảnh giới. Hút linh khí thì không mất gì, chỉ mất thời gian. Căn tốt thì hút nhanh, căn kém thì hút chậm. Cho tới đó thì chẳng khác gì người ta học chữ.
Nhưng hết chín nấc thì đứng lại. Cửa sang cảnh giới sau đóng chặt, ngồi hút thêm bao nhiêu cũng thế. Phải lên cân.
– Trời không cho không ai cái gì. – Chị Xuyến nói, tay đang nhổ cỏ quanh gốc một cây đương quy. – Muốn lên một bậc thì phải bỏ lại một thứ. Thứ đó phải là của mình. Phải là mình quý. Trời không cân bằng giá chợ, trời cân bằng lòng người đặt. Cậu đặt một cục vàng mà cậu không thương nó thì nhẹ như cái lông gà. Cậu đặt một cái lược gỗ mẹ cậu chải đầu cho cậu thì có khi nặng hơn cả nhà.
– Thế căn kém thì sao ạ?
– Căn kém thì ngưỡng nặng. – Chị nói, không nhìn tôi. – Lên càng cao ngưỡng càng nặng, với ai cũng thế. Nhưng căn kém thì nặng gấp mấy lần. Đến Lập Thần, người căn tốt đặt một bức tranh mình thích. Người căn kém như cậu phải đặt cả một phần đời.
Tôi nghĩ tới vị chè. Tôi nghĩ tới câu "lần sau cậu còn gì để đặt".
– Chị kẹt ở cuối Rèn Xương lâu chưa ạ?
Chị Xuyến ngừng tay. Chị không quay lại. Lần đầu tiên tôi thấy lưng chị cứng lại, như người vừa bị ai chạm vào chỗ đau.
– Tám năm. – Chị nói. – Đi nhổ cỏ luống bên kia đi.
Sau này tôi mới biết từ người khác: chị có một đứa em trai, chết đuối ở khúc sông quê năm nó tám tuổi, khi chị dắt nó đi tắm. Chị đã thử đặt lên Cân Trời đủ thứ. Thứ duy nhất làm đĩa cân lay động là ký ức về thằng em. Chị không đặt. Tám năm, chị không đặt.
Tháng thứ hai, tôi trồng hạt chè.
Sau dãy nhà thứ ba có một mỏm đất nhỏ sát vách núi, toàn đá vụn và đất sỏi, không ai dùng. Tôi xin chị Xuyến. Chị ra xem, lấy mũi cuốc gẩy gẩy lớp đất, rồi nhìn tôi như nhìn một đứa sắp làm điều ngu thứ hai.
– Chè cần đất chua, đất tơi. Đất này toàn sỏi.
– Cây chè tổ nhà cháu mọc trên đồi sỏi.
Chị không cãi. Ngày hôm sau, chị mang đến hai giỏ lá mục từ dưới rừng sồi, một giỏ tro bếp, và chỉ cho tôi trộn đất: ba phần đất sỏi, hai phần lá mục, một phần tro, tưới nước vo gạo ủ mười ngày. Tôi gieo cả ba hạt, mỗi hạt một hốc, cách nhau một gang tay. Tôi tưới mỗi sáng. Bốn mươi ngày, không có gì. Ngày thứ bốn mươi mốt, một hốc đất nứt ra, nhú lên một cái mầm cong như móc câu, hai lá mầm đỏ tía.
Hai hốc kia không bao giờ lên.
Tôi đứng nhìn cái mầm cả buổi sáng. Khuê đi ngang, đứng nhìn cùng tôi.
– Một cây chè con. – Nó nói. – Cậu nhìn nó như nhìn con gái.
– Cây chè tổ ở nhà tớ. Bà tớ đưa hạt.
– Thế cậu có nếm được chè nó ra đâu.
– Bà tớ bảo thì ngửi.
Khuê ngồi xổm xuống, chạm ngón tay vào lá mầm, rất khẽ. Rồi nó bảo:
– Đẹp nhỉ.
Tôi nhớ cái giọng của nó lúc ấy. Đến bây giờ, khi đã biết mọi chuyện, tôi vẫn nghĩ cái giọng ấy là thật.
Khuê tu nhanh như người ta chạy xuống dốc. Tôi tu chậm như người ta gánh nước lên dốc. Cuối năm đầu, Khuê đã hết chín nấc Mở Mạch, lên Cân Đá. Nó đặt lên một cái quạt giấy vẽ hoa sen, mẹ nó vẽ cho. Đĩa cân đá hạ xuống, cái quạt hóa tro, Khuê Rèn Xương. Nó về phòng, vẫn cười như thường. Tôi hỏi nó có tiếc cái quạt không.
– Một chút. – Khuê nói, nghĩ một lúc rồi chữa lại. – Mà không. Không tiếc lắm. Mẹ tớ vẽ cả trăm cái.
Cuối năm đầu, tôi mới lên được nấc thứ ba.
Mùa thu năm thứ hai, có Lễ Cân trên đỉnh. Mỗi năm một lần, đệ tử nào đủ chín nấc Rèn Xương thì lên Cân Trời, trước mặt toàn tông. Ngoại môn được lên xem, đứng ở mép sân. Đó là lần đầu tôi thấy Cân Trời.
Người ta tả không sai, có khi còn tả thiếu. Cột cân bằng đồng đen to bằng cột đình, đòn cân vắt ngang trời, hai đĩa cân treo bằng xích sắt mắt to như vòng tay, phẳng lì, rộng như sân phơi thóc. Gió trên đỉnh núi thổi rít qua những mắt xích, nghe như tiếng sáo. Một bên đĩa để trống. Bên kia là một khối đồng đen, không ai biết nặng bao nhiêu, chỉ biết nó chưa bao giờ bị nhấc lên.
Trưởng lão Phí Đăng Quỳnh đứng cạnh cột cân, áo dài đen, tay cầm cây thước ngà. Ông không nói gì nhiều. Ông chỉ gọi tên từng người, nhìn họ bước lên đĩa trống, rồi gõ thước vào cột cân khi đĩa chạm gờ.
Người thứ ba lên là một anh nội môn chừng hai mươi lăm tuổi, cao lớn, mặt vuông. Anh đứng giữa đĩa cân, hai tay buông thõng, nhắm mắt rất lâu. Đĩa cân bắt đầu hạ. Hạ chậm, hạ đều. Chạm gờ. Thước ngà gõ vào cột đồng một tiếng boong ngân dài.
Anh bước xuống. Khuôn mặt anh lúc ấy, tôi không quên được. Không đau đớn, không buồn bã. Chỉ là ngơ ngác. Anh đi về chỗ của mình, ngồi xuống, cho tay vào túi áo, lấy ra một tấm tranh lụa nhỏ, vẽ chân dung một người đàn bà. Anh nhìn tấm tranh rất lâu, lật đi lật lại, như nhìn một vật nhặt được ngoài đường. Rồi anh đưa cho người ngồi bên cạnh:
– Ai đây nhỉ?
Người bên cạnh không trả lời. Cả hàng ngoại môn đứng sau lưng tôi im phăng phắc.
– Mẹ anh ấy. – Chị Xuyến nói khẽ bên tai tôi, cái tai phải của chị hướng về phía cân. – Anh ấy đặt khuôn mặt mẹ. Giờ anh ấy nhớ mình có mẹ, nhớ mẹ nấu món gì, nói câu gì. Chỉ không nhớ mặt.
Đêm ấy, xuống núi, tôi và Khuê đi cạnh nhau trên con đường đá lát bậc. Trăng sáng. Hai bên đường, rừng thông thở rì rào. Khuê đi im lặng suốt một quãng dài. Rồi nó dừng lại.
– Bừng này.
– Ừ?
– Đến lúc tớ lên Cân Trời, – nó nói, giọng nhỏ, không giống giọng nó mọi khi, – tớ chẳng có gì để đặt.
– Cậu có cả hòm ngọc.
– Ừ. – Khuê nói. – Thế mới khổ.
Nó đi tiếp, bước nhanh hơn. Tôi đứng lại một lúc trên bậc đá, nhìn theo cái lưng áo thiên thanh của nó khuất dần trong bóng thông. Trên đầu tôi, ở cái mỏ hạc chìa ra lưng chừng trời, đòn cân đồng vẫn đứng đó dưới trăng, đen sẫm, bất động, như một con chim lớn đang chờ.
— Hết chương 2 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe