Chương 9: Ba trăm mười bảy cây măng
Sư phụ không tránh đường cho chưởng môn. Bà chắp tay, cúi đầu, rồi đứng thẳng lại, vẫn chắn ngay giữa miệng hang.
– Thưa chưởng môn. – Bà nói. – Trước khi Hội đồng vào trong, xin cho tôi nói.
Chưởng môn nhìn bà. Ông gật đầu.
– Trong hang có ba trăm mười bảy cây măng. – Sư phụ nói. Giọng bà không run, không to, như đọc một bài kiếm quyết đã thuộc lòng. – Đào ở Bờ Lạc, từ ba mươi hai bụi, trong hai mươi ngày qua. Người ra lệnh đào là trưởng lão Kiếm Đường Tiêu Cảnh Dực. Người đào là quản sự Kiếm Đường và bốn đệ tử của ông ấy. Người mua măng của đệ tử Kha Thị Mơ với giá ba lạng một cây, nói dối là để thử thuốc, cũng là người của ông ấy. Còn người nuôi ba trăm mười bảy cây măng này sống qua hai mươi ngày, là tôi.
Sau lưng chưởng môn, mười một trưởng lão đứng im như tượng. Ở phía sau nữa, đám đệ tử Đồi Tổ xôn xao.
– Lệnh đốt Bờ Lạc, – sư phụ nói tiếp, – không phải để trừ bệnh. Không có bệnh. Đệ tử của tôi đã chứng rồi. Lệnh đốt là để lấp hố. Đề nghị rút hạn đốt xuống mười ngày, là tôi đứng lên nói. Tôi nói vì bụi Tiêu đi nhanh, bốn mươi sáu đứa Đồi Tổ cần chiết sớm. Tôi biết lửa sẽ đốt cây của mười một đứa Bờ Lạc. Tôi vẫn nói.
Bà ngừng lại. Bà nhìn tôi, rồi nhìn Mơ, rồi nhìn Sóc, rồi nhìn hết lượt những người Bờ Lạc đứng trước miệng hang.
– Sáng nay, gã quản sự này mang dầu tới. – Bà chỉ người đàn ông ngồi bệt dưới đất. – Tôi là người tước ống dầu. Không phải vì tôi tốt. Vì tôi nuôi ba trăm cây măng này hai mươi ngày, tôi không để ai đốt chúng.
Tiêu Cảnh Dực bước lên. Ông leo ba thác khô sau cùng, áo xanh thẫm ướt mồ hôi, tóc tai rối bời. Nhưng giọng ông vẫn sang sảng.
– Bà Mạnh nói đúng một nửa. – Ông nói. – Tôi ra lệnh đào. Tôi nhận. Nhưng các người đứng đây giữ hang để làm gì? – Ông quay lại, chỉ tay về phía đám đệ tử Đồi Tổ. – Bốn mươi sáu đứa. Mười ngày nữa bụi Tiêu chết khô. Hai mươi ngày nữa bụi Lạc, bụi Phùng chết theo. Không chiết thì chúng rụng đốt hết. Đứa đốt chín, đứa đốt tám, mười mấy năm thành tro. Mười hai đứa Bờ Lạc thì sao? Đốt còn thấp, cấp măng mới, tu lại được. Tôi đổi mười hai lấy bốn mươi sáu. Ai ở đây dám nói tôi đổi sai?
Không ai nói gì. Tôi thấy mấy trưởng lão thế gia cúi mặt. Tôi thấy cha mẹ của mấy đứa Đồi Tổ đứng phía sau nhìn nhau. Tôi thấy con bé nhà Lạc mười lăm tuổi đứng nép sau lưng mẹ nó, mắt đỏ hoe.
Tiêu Cảnh Dực nói đúng một nửa. Cái nửa ấy là thật. Bốn mươi sáu đứa nhỏ sẽ rụng đốt. Cái nửa ấy làm ai cũng câm.
Tôi rút trong ngực áo ra tờ giấy dó gấp tư. Tôi bước lên, đứng trước mặt chưởng môn, mở tờ giấy ra. Mười hai dấu tay. Mười một dấu đen mực tàu, một dấu đỏ màu bột điều.
– Không cần đổi. – Tôi nói.
Tiêu Cảnh Dực nhìn tờ giấy. Tôi thấy ông ta đọc nó, đọc nhanh, rồi đọc lại chậm.
– Bờ Lạc cho măng. – Tôi nói, to, cho cả bãi đất bằng nghe. – Ba trăm mười bảy cây trong hang này, là của Bờ Lạc. Bờ Lạc cho. Cho bốn mươi sáu đứa nhỏ. Hổng phải bán, hổng phải bị đào. Cho, có tên bụi, có tên người cho, có dấu tay. Đổi ba điều.
Tôi đọc ba điều. Hổng đốt Bờ Lạc. Hổng còn Đồi Tổ, Bờ Lạc, chỉ còn một rừng chung, măng bốc thăm mà nhận. Đứa nào chiết vào măng bụi nào, khi hạ kiếm khắc tên chủ bụi ấy lên chuôi.
Đọc xong, tôi gấp tờ giấy lại, cầm trong tay. Bãi đất bằng im phắc. Chỉ có tiếng dơi rúc rích trong hang.
Rồi có một người bước ra từ đám trưởng lão. Không phải chưởng môn. Là ông già lưng còng nhà Phùng, người đã nhìn tờ giấy dập ở Tiết Đường mà mặt tái đi.
– Nhà Phùng có chín đứa chưa tới đốt chín. – Ông nói. Giọng ông run run như lá tre khô. – Ông tổ nhà Phùng khắc lên đá rằng mười bốn họ cùng một gốc. Tôi đọc tấm bia ấy năm hai mươi tuổi. Tôi im năm mươi năm. – Ông quay sang tôi, chắp tay. – Nhà Phùng nhận măng của Bờ Lạc. Nhận ba điều.
Con bé nhà Lạc mười lăm tuổi chạy ra khỏi lưng mẹ nó. Nó đứng trước mặt Mơ, không nói được gì, rồi khóc òa lên. Mơ ôm lấy nó.
Mẹ con bé nhà Lạc bước ra theo. Rồi một ông bố nhà Đoàn. Rồi một bà mẹ nhà Lạc khác. Từng người, từng nhà. Họ không nói gì nhiều. Chỉ một câu. Nhà tôi nhận.
Tiêu Cảnh Dực đứng giữa bãi đất. Quanh ông, người ta đi qua đi lại, nói chuyện với người Bờ Lạc, hỏi bụi nào, cây nào. Không ai nói với ông. Hành Đạt đứng cách cha mười bước, nhìn ông, rồi quay đi, đến chỗ Sóc.
Tôi thấy Hành Đạt đứng trước mặt Sóc một lúc lâu mà không nói được gì. Rồi anh ta nói, giọng nhỏ tới mức tôi đứng cách mấy bước phải nín thở mới nghe:
– Tôi đốt chín. Hội Hạ Kiếm còn hơn hai mươi ngày. Bụi nhà tôi còn mười. – Anh ta ngừng lại. – Tôi đã cưa trộm tre bụi Bờ Lạc để đánh một đứa con gái đốt sáu. Tôi không có mặt mũi nào xin anh.
Sóc nhìn anh ta, lâu, như nhìn một con thuyền lật ngoài khơi.
– Ở làng tôi, – Sóc nói, – thuyền lật thì vớt trước, chửi sau. – Anh quay sang chỗ mấy đứa Bờ Lạc. – Bụi tôi mùa này có hai cây măng trong hang. Cây nào thẳng hơn thì cho nó.
Hành Đạt quỳ xuống. Không phải quỳ trước Hội đồng, không phải quỳ trước cha. Quỳ trước một người làng chài đốt chín, trên bãi đất đầy đá cuội, trước mặt nửa toàn môn. Tiêu Cảnh Dực nhìn thấy. Ông nhắm mắt lại.
Chưởng môn gõ gậy xuống đất một cái.
– Ba điều ấy, Thất Tiết Kiếm Phái nhận. – Ông nói. – Lệnh đốt bỏ. Tiêu Cảnh Dực thôi giữ Kiếm Đường. Kiếm Phổ chép lại, chép đúng điều khắc trên bia Thung Vắng. – Ông ngừng lại, nhìn sư phụ tôi. – Còn trưởng lão Mạnh.
Sư phụ quỳ xuống.
– Chiết khí cho bốn mươi sáu đứa xong, – bà nói, trước khi chưởng môn kịp nói tiếp, – tôi xin thôi làm trưởng lão. Tôi xin xuống Thung Vắng, trông cái miếu ấy.
Chưởng môn nhìn bà, tay xoay xoay cây gậy trúc.
– Chiết xong rồi hãy nói. – Ông nói. – Bắt đầu từ đêm nay.
Hội đồng đi vào hang. Những người thế gia đi theo, mỗi người cầm một cái thẻ tên con mình, tìm hàng măng của con mình, rồi tìm người Bờ Lạc có bụi ấy để nói một câu mà xưa nay chưa ai trong họ từng nói với người Bờ Lạc.
Hành Viễn vẫn đứng ở miệng hang. Anh không vào.
Tôi đi tới đứng cạnh anh. Vai trái tôi đau như có ai đóng đinh.
– Anh hổng vô?
– Hàng măng có tên tôi, tôi bẻ thẻ rồi. – Anh nói. – Măng ấy là măng trộm. Giờ Bờ Lạc cho thì nó thành măng cho. Nhưng tôi vẫn nhớ nó từng là măng trộm.
– Bụi nhà Tiêu còn mười ngày.
– Tôi biết.
Tôi im một lúc. Rồi tôi đi vào hang, một mình, qua cái ruột tối đầy dơi, ra tới giếng trời. Sư phụ đã bắt đầu chiết cho đứa đầu tiên, con bé nhà Lạc, ở góc chảo dưới mái lá, hai bàn tay bà đặt một tay lên đầu con bé, một tay lên gốc cây măng. Mấy người Kiếm Đường biết chiết cũng đã ngồi xuống bên những đứa khác.
Giếng trời đêm ấy khác hẳn đêm tôi mới tới. Đèn lồng thắp khắp lòng chảo, treo trên những cây sào tre cắm giữa các hàng giỏ. Người Đồi Tổ ngồi cạnh người Bờ Lạc, chỉ cho nhau bụi nào, cây nào. Có bà mẹ nhà Đoàn ngồi xổm cạnh thằng nhỏ làng biển, hỏi nó làng biển có trồng tre không, gió biển mặn thế thì tre sống sao. Thằng nhỏ ngượng, gãi đầu, bảo tre làng con thấp lè tè mà dai lắm, bão không gãy. Mạch nước trên vách vẫn rỉ róc rách, như chẳng có gì thay đổi.
Tôi đi tới hàng cuối, sát vách đá phía đông. Năm cây măng mắt cong. Cái thẻ tên của Hành Viễn đã bị nhổ, chỉ còn cái lỗ nhỏ trong đất.
Tôi chọn cây cong nhất. Tôi bưng cả cái giỏ lên, ôm trước ngực, đi ra.
Hành Viễn vẫn đứng ở miệng hang. Anh nhìn cái giỏ, nhìn cây măng, nhìn tôi.
– Măng bụi tui. – Tôi nói. – Hồi nãy là măng trộm. Giờ là măng tui cho. Tui cho thì nó là măng cho, hổng phải măng trộm. Mắt cong. Lớn lên cong. Đừng chê.
Hành Viễn đưa hai tay ra đỡ cái giỏ. Tay anh run. Ngón trỏ còn vết sẹo nhỏ vì bện dây lạt.
– Tôi không chê. – Anh nói.
Mất ba ngày ba đêm để chiết xong cho anh. Đêm thứ ba, lúc trăng lên đỉnh giếng trời, cây măng mắt cong trong giỏ của Hành Viễn trổ lá đầu tiên, rồi từ cái bẹ dưới cùng nhú ra một đốt. Rồi một đốt nữa. Sư phụ ngồi bên cạnh, đếm. Tới đốt thứ tám thì dừng.
– Đốt tám. – Bà nói. – Không rụng đốt nào.
Hành Viễn mở mắt. Anh nhìn cây măng, rồi nhìn tôi đang ngồi bên kia giỏ. Anh không nói gì. Tôi cũng không. Tôi nhìn xuống đất, giả vờ đếm lại số đốt.
Gần sáng, khi Hành Viễn đã ngủ gục bên cái giỏ, tôi ngồi với sư phụ dưới mái lá. Bà đang rửa tay trong chum nước, chậm rãi, từng ngón một.
– Sư phụ. – Tôi hỏi. – Sáng hôm đấu kiếm, sao sư phụ đứng ở miệng hang?
Sư phụ lau tay vào vạt áo. Bà nhìn lên khoảng trời trên giếng, nơi những ngôi sao cuối cùng đang tắt.
– Đêm trước, – bà nói, – ta ra Bờ Lạc. Ta ra bụi Ông Biển. Bốn mươi năm ta chưa dám ra đó. – Bà ngừng lại. – Dưới gốc bụi ấy, trên mấy chiếc lá khô, còn vương mực tàu với bột điều, chỗ mười hai đứa các con ngồi ấn tay chiều hôm ấy. Ta ngồi đó tới gần sáng.
Bà cúi xuống, cầm cái giỏ mây có nắp đan kiểu mắt cáo, đặt vào lòng tôi.
– Từ nay con tưới. – Bà nói.
— Hết chương 9 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe