Chương 4: Ba ngón tay ở Tiết Đường
Đêm ấy tôi đi tìm sư phụ.
Nhà sư phụ ở cuối dãy nhà trưởng lão, cái nhà nhỏ nhất, mái tranh chứ không phải ngói, sân trước có một giàn mướp và một cái cối giã gạo bằng đá. Năm năm nay tôi tới đây mỗi tối để học kiếm quyết. Năm năm, chưa tối nào cửa đóng.
Tối nay cửa đóng. Không có đèn. Tôi gõ ba lần, không ai thưa. Tôi ngồi xuống bậc thềm chờ tới canh hai, sương ướt hết vai áo, vẫn không thấy ai về. Cái giỏ mây có nắp bà vẫn xách mỗi sáng sớm không treo trên vách hiên như mọi khi.
Tôi về Bờ Lạc, nằm dưới gốc cây mắt cong, mở mắt nhìn trời tới sáng.
Sáng hôm sau, tôi xin được dâng chứng trước Hội đồng. Luật núi Bảy Đốt cho phép. Chưởng môn đã nói ba mươi ngày cho ai chứng được thì chứng, giờ ba mươi ngày thành mười ngày, nhưng cái luật chứng thì vẫn còn.
Tiết Đường không đông như hôm đánh chiêng. Chỉ có mười một trưởng lão ngồi thành hình móng ngựa, chưởng môn ngồi giữa, và một ít đệ tử đứng ở cuối sân. Tôi đứng giữa móng ngựa, tay ôm một bó cành tre và một ống tre đựng tờ giấy dập. Hành Viễn đứng sau tôi ba bước. Mơ đứng ở cuối sân, lẫn trong đám người Bờ Lạc.
Sư phụ ngồi ở đầu bên phải móng ngựa. Bà mặc áo nâu sẫm, tóc búi thấp, mặt xanh như người thiếu ngủ. Bà nhìn tôi một lần lúc tôi bước vào, rồi nhìn xuống nền đá.
– Đệ tử Bờ Lạc Quản Thị Nan, đốt sáu, xin dâng chứng. – Tôi nói. Giọng tôi run, tôi để nó run. – Tre Đồi Tổ trổ bông không phải vì bệnh. Tre Đồi Tổ trổ bông vì mười bốn bụi là một nhà, chiết từ một bụi Mẹ, tới tuổi thì cùng trổ, cùng đi. Tre Bờ Lạc không trổ vì tre Bờ Lạc không có họ hàng trên núi này.
Có tiếng xì xào ở mấy trưởng lão thế gia. Tiêu Cảnh Dực ngồi ở đầu bên trái, khoanh tay, không động.
– Chứng thứ nhất. – Tôi nói. – Lạt đỏ, lạt trắng. Đêm kia con buộc lạt khắp Rừng Kiếm. Cây trổ bông buộc đỏ, cây không trổ buộc trắng. Đứng trên vách Gió nhìn xuống thì thấy: Đồi Tổ đỏ hết, Bờ Lạc trắng hết, kể cả mấy cây sát khe cành chạm cành với Đồi Tổ. Tre gai làm rào kho kiếm, đứng giữa bụi Tiêu với bụi Phùng, không trổ. Còn bụi tre cảnh trước cửa Tiết Đường này, – tôi chỉ ra ngoài cửa, – ở cao nhất núi, ngược gió với Bờ Lạc, thì trổ.
Mấy trưởng lão quay đầu ra cửa. Ở đó, trên bụi tre vàng sọc xanh trong bồn đá, sợi lạt màu bột điều vẫn còn buộc trên cành.
– Chứng thứ hai. – Tôi giơ bó cành tre lên. – Cành tre ở Thung Vắng. Bụi nhà Phùng ở Thung Vắng, cách đây hai ngọn núi, không có tre lạc nào quanh đó. Bông còn tươi, mới trổ vài ngày, cùng ngày với Đồi Tổ.
– Thung Vắng đã đóng đường. – Một trưởng lão họ Lạc nói, giọng gắt. – Ai cho cô xuống?
– Con xuống bằng vực. – Tôi nói. – Con chịu phạt. Nhưng chứng thì vẫn là chứng.
– Chứng thứ ba. – Tôi mở ống tre, rút tờ giấy dập ra, trải lên nền đá. Chữ trắng trên nền than đen. – Bia đá trong miếu hoang ở Thung Vắng, do họ Phùng khắc năm Mậu Thìn. Bia ghi: bụi Mẹ do tổ sư trồng, mười bốn họ đều chiết từ đây.
Lần này sân Tiết Đường im hẳn. Trưởng lão họ Phùng, một ông già lưng còng ngồi ở giữa móng ngựa, chồm người tới nhìn tờ giấy, rồi ngồi thẳng lại, mặt tái đi.
Tiêu Cảnh Dực đứng dậy.
Ông không vội. Ông bước ra giữa móng ngựa, đứng cạnh tôi, cúi xuống nhìn tờ giấy dập một lúc lâu, như một người thật lòng muốn đọc. Rồi ông đứng thẳng lên, quay về phía chưởng môn.
– Thưa chưởng môn, đệ tử này giỏi. – Ông nói. Giọng ông sang sảng, ấm, như giọng người khen con cháu. – Giỏi tới mức tôi tiếc là nó sinh ở Bờ Lạc. Nhưng giỏi thì cũng phải đúng.
Ông giơ một ngón tay.
– Lạt đỏ lạt trắng. Ai buộc? Đệ tử Bờ Lạc buộc. Ai thấy nó buộc? Không ai. Buộc lạt lên cây là việc ai muốn tô màu gì thì tô.
– Tôi buộc. – Hành Viễn lên tiếng từ sau lưng tôi. – Toàn bộ Đồi Tổ là tôi buộc.
Tiêu Cảnh Dực quay đầu lại nhìn cháu mình. Ông không giận. Ông nhìn Hành Viễn như nhìn một đứa trẻ vừa làm vỡ cái chén, rồi quay lại, giơ ngón tay thứ hai.
– Thung Vắng. – Ông nói. – Bụi tre ở Thung Vắng trổ bông thật. Kiếm Đường biết. Chính vì biết nên Kiếm Đường mới đóng đường, mới đốt. Bệnh đã lan qua hai ngọn núi rồi. Gió không mang được thì chim mang. Chim ăn bông tre ở Bờ Lạc, bay qua núi, đậu xuống Thung Vắng. Có ai dám nói chim không bay được qua hai ngọn núi?
Tôi há miệng định cãi thì ông đã giơ ngón tay thứ ba.
– Còn tờ giấy này. – Ông chỉ xuống tờ giấy dập, không thèm cúi nhìn nữa. – Cô lấy than xoa lên giấy, chữ ra. Tôi lấy than xoa lên giấy, chữ cũng ra. Chữ gì cũng ra. Một tấm đá vô danh dưới miếu hoang, nét khắc vụng như trẻ con, muốn cãi lại Kiếm Phổ do tổ sư chép tay một trăm hai mươi năm? Kiếm Phổ chép họ Tiêu gốc ở núi Lam Phong, họ Phùng gốc ở đầm Vân, họ Lạc gốc ở rừng Bạch. Mười bốn họ, mười bốn gốc, mười bốn sự tích. Đệ tử Bờ Lạc mới lên núi năm năm, nay muốn xóa sự tích của mười bốn nhà.
Ông dừng lại. Sân im phắc.
– Tôi hiểu vì sao. – Ông nói, giọng dịu xuống, gần như thương hại. – Tre Bờ Lạc sắp bị đốt. Ai bị dồn vào chân tường thì cũng sẽ tìm một tấm đá mà dựa.
Mấy trưởng lão thế gia gật gù. Trưởng lão họ Phùng nhìn xuống đất. Ông không gật, nhưng ông cũng không nói gì.
Tôi đứng giữa móng ngựa, hai tay cầm bó cành tre, thấy mặt mình nóng ran. Tôi biết ông ta sai. Tôi biết cả sân này có ít nhất một nửa biết ông ta sai. Nhưng ông ta nói hay hơn tôi. Ông ta nói như người đứng trên cao nói xuống, và người ta quen nghe người đứng trên cao.
– Trưởng lão Mạnh. – Chưởng môn bỗng lên tiếng. Giọng ông khàn như tiếng tre già cọ vào nhau. – Đây là đệ tử của bà. Bà nói gì?
Cả sân quay sang sư phụ tôi.
Bà ngẩng lên. Bà nhìn tôi. Trong đôi mắt ấy có một thứ tôi chưa từng thấy suốt năm năm, một thứ gì đó giống như đau.
– Đệ tử của tôi không nói dối. – Bà nói. Giọng bà nhỏ, khàn. – Nó sinh ở xóm đan đát, nó biết tre hơn ai ở đây.
Tôi thấy ngực mình nhẹ đi một nhịp.
– Nhưng tre Đồi Tổ chết là thật. – Bà nói tiếp. – Bệnh hay không bệnh, bốn mươi sáu đứa trẻ Đồi Tổ chưa tới đốt chín, cây chết là rụng đốt. Ba ngày qua tôi đi khắp Đồi Tổ, bụi nhà Tiêu đã bắt đầu rụng lá. Chờ ba mươi ngày thì không kịp. – Bà nhìn chưởng môn. – Tôi không rút lời đề nghị hôm qua.
Tôi đứng như bị ai tát.
Chưởng môn nhắm mắt lại. Ông ngồi im lâu tới mức có người tưởng ông ngủ. Rồi ông nói, mắt vẫn nhắm:
– Bụi tre trước cửa Tiết Đường, ta trồng. Hai mươi năm trước, ta chiết một cây măng từ bụi nhà Tiêu. Sáng nay ta thấy trên cành nó có một sợi lạt đỏ. – Ông mở mắt, nhìn tôi. – Ta không cởi.
Ông đứng dậy.
– Hạn mười ngày giữ nguyên. – Ông nói. – Ai có chứng thêm thì chứng thêm.
Rồi ông đi vào trong. Hội đồng tan.
Sư phụ đứng dậy, đi ra cửa sau, không nhìn tôi. Tôi định chạy theo thì Hành Viễn nắm tay áo tôi giữ lại.
– Không phải lúc. – Anh nói.
Tôi đứng đó, nhìn theo cái lưng áo nâu sẫm của bà khuất sau dãy nhà trưởng lão. Năm năm, chưa lần nào bà quay lưng với tôi như thế.
Chiều hôm ấy, Mơ tìm tôi ở Bờ Lạc. Tôi đang ngồi dưới gốc cây mắt cong, bện lại cái đầu dây lạt bị sờn vì đá vực. Mơ không ngồi xuống. Nó đứng trước mặt tôi, hai tay vặn vào nhau, mặt đỏ như vừa khóc.
– Nan. Tao phải nói với mày một chuyện.
– Nói đi.
– Mấy cái hố dưới gốc tre tao. – Nó nói. – Không phải nhím.
Tôi đặt sợi dây xuống.
– Tháng trước, bố tao ốm. – Mơ nói, giọng nhanh như ném đá, như sợ dừng lại thì không nói được nữa. – Ho ra máu. Thầy thuốc bảo phải có sâm mới qua được mùa đông. Tao không có tiền. Có một ông quản sự Kiếm Đường tìm tới. Ông ấy bảo Kiếm Đường cần măng tre lạc để thử thuốc trị bệnh cho tre Đồi Tổ. Mỗi cây măng ba lạng bạc. Tao bán ba cây.
– Bán măng là bán đời sau. – Tôi nói, rất khẽ. Đó là câu người Bờ Lạc nào cũng biết. Măng bụi của mình là để dành cho em út, cho đệ tử của mình sau này. Bán đi thì bụi mình không còn ai nối.
– Tao biết. – Mơ nói. Nước mắt nó trào ra. – Tao biết. Nhưng bố tao ho ra máu.
Tôi đứng dậy, ôm lấy nó. Nó gục mặt vào vai tôi, khóc nấc lên.
– Ông ấy dặn tao đào lúc nửa đêm, – Mơ nói trong tiếng nấc, – để vào giỏ, mang tới để ở miệng Hang Dơi, sau núi, rồi về. Không được đi vào. Tao đi ba đêm. Đêm thứ ba, tao thấy có ánh đèn trong hang. Có tiếng người. Tao sợ, tao chạy.
Tôi buông nó ra, nhìn vào mắt nó.
– Hang Dơi ở đâu?
– Sau núi. Phía tây bắc. Đi đường suối cạn, qua ba cái thác khô.
– Mày dẫn tui đi được hông?
Mơ lau mắt bằng ống tay áo, gật đầu. Rồi nó nói thêm một câu, nhỏ tới mức tôi phải cúi xuống mới nghe:
– Cái giỏ đựng măng mà ông quản sự đưa cho tao. Là giỏ mây có nắp. Giống y cái giỏ sư phụ mày xách mỗi sáng.
— Hết chương 4 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe