AI Truyện
Năm tre Rừng Kiếm trổ bông

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Mười hai dấu tay dưới bụi Ông Biển

Năm tre Rừng Kiếm trổ bông · Chương 7/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 7: Mười hai dấu tay dưới bụi Ông Biển

Luật Thử Kiếm ở núi Bảy Đốt có ba điều, đứa Đâm Măng nào cũng thuộc.

Một: năm ngày sau khi buộc khăn thì đấu, trên sân đá trước Tiết Đường, toàn môn được xem.

Hai: kiếm đấu là kiếm tập, chặt từ một cây tre già trong bụi nhà mình. Chưa hạ kiếm thì chưa có kiếm thật, nên người ta đánh bằng tre của nhà mình, cho tre nghe tiếng chủ.

Ba: ai rời sân, ai buông kiếm, ai nói thua, thì thua.

Năm ngày. Lệnh đốt Bờ Lạc còn chín ngày. Hành Đạt đã tính rất khéo. Tôi thua thì phải xuống núi trước ngày đốt bốn hôm, và mọi thứ tôi đã nói trước Hội đồng thành lời của một đứa bị đuổi.

Tôi gỡ cái khăn đỏ khỏi cây mắt cong, gấp lại, nhét vào ngực áo. Rồi tôi bảo Mơ đi gọi người.

Chiều hôm ấy, mười hai đệ tử Bờ Lạc ngồi quanh một bụi tre già ở góc Bờ Lạc, gần cây của Mơ. Bụi tre ấy vỏ xanh có sọc trắng, mắt tre to như mắt cá, gốc đã già lắm, chủ cũ của nó chết từ trước khi đứa nào trong chúng tôi ra đời. Người Bờ Lạc gọi nó là bụi Ông Biển, vì nghe nói chủ cũ là người miệt biển. Tôi chọn chỗ này. Tôi có lý do.

Đinh Văn Sóc ngồi đối diện tôi. Anh hai mươi lăm tuổi, đốt chín, lớn nhất Bờ Lạc, người làng chài miền Trung, nước da cháy nắng, nói chậm và chắc như đóng cọc. Ba mươi ngày nữa anh hạ kiếm, nếu cây anh còn đứng.

Tôi kể. Kể hết. Hang Dơi. Ba trăm cây măng. Những cái thẻ tên. Cái giỏ mây. Tôi không giấu chuyện sư phụ. Không giấu chuyện cây mắt cong được gạch khỏi danh sách đốt. Kể tới đâu, mặt mười một người kia tối lại tới đó.

Tôi kể xong, không ai nói gì một lúc. Rồi thằng nhỏ làng biển, đứa hôm trước ôm cây măng khóc, đứng bật dậy.

– Đi! Đi đốt cái hang đó! Đốt luôn Đồi Tổ!

Mấy đứa khác đứng theo. Có đứa rút rựa.

– Ngồi xuống. – Sóc nói. Anh không to tiếng. Nhưng thằng nhỏ ngồi xuống.

Sóc nhìn tôi.

– Cô gọi chúng tôi tới đây không phải để rủ đi đốt. – Anh nói. – Cô muốn gì?

– Tui muốn Bờ Lạc cho măng. – Tôi nói.

Cả vòng tròn nổ tung. Có đứa chửi. Có đứa cười khẩy. Mơ ngồi cạnh tôi, cúi gằm mặt.

– Nó đào trộm măng của mình! – Một chị quê miệt núi đá gào lên. – Nó định đốt cây của mình! Giờ mình đem dâng măng cho nó?

– Hổng phải dâng. – Tôi nói. – Cho. Có điều kiện.

– Điều kiện gì?

– Hổng đốt Bờ Lạc. – Tôi giơ một ngón tay, như cách Tiêu Cảnh Dực đã làm ở Tiết Đường. Tôi thấy mấy người giật mình vì nhận ra cái cử chỉ ấy. – Hai: từ nay hổng còn Đồi Tổ, hổng còn Bờ Lạc. Tre trổ bông chết rồi, Đồi Tổ trống trơn. Lấy chỗ đó trồng một rừng chung. Măng nhú ở đâu cũng là măng của núi, đứa nào lên Đâm Măng thì bốc thăm mà nhận, hổng hỏi họ gì. Ba: đứa Đồi Tổ nào chiết vào măng của bụi nào, thì khắc tên chủ bụi đó lên chuôi kiếm khi hạ kiếm. Để nó nhớ nó sống bằng tre của ai.

Vòng tròn im lặng.

– Cô nghĩ Tiêu Cảnh Dực gật? – Sóc hỏi.

– Hổng phải ông ta gật. – Tôi nói. – Bốn mươi sáu đứa nhỏ với cha mẹ tụi nó gật. Ba trăm cây măng trong hang là ăn trộm. Ăn trộm thì chiết vô cũng mang tiếng cả đời. Còn măng mình cho, có giấy, có tên, đàng hoàng. Cha mẹ nào chọn ăn trộm cho con khi có thể chọn cái đàng hoàng?

– Còn nếu họ không chọn?

– Thì Bờ Lạc mất gì? – Tôi hỏi lại. – Măng mình đã bị đào rồi. Tuần sau cây mình bị đốt. Mình hổng còn gì để mất.

Sóc nhìn tôi rất lâu, như người đang tính con nước.

– Tại sao cô chọn ngồi ở bụi này? – Anh hỏi.

Tôi đặt tay lên thân bụi tre Ông Biển. Vỏ nó sần sùi, ấm nắng chiều.

– Bốn mươi năm trước, – tôi nói, – có một thằng con trai Bờ Lạc, mười bảy tuổi, người miệt biển. Đêm ấy nó đào một cây măng từ bụi của nó, đặt trước cửa một đứa con gái Đồi Tổ vừa bị cháy mất bụi. Hổng ai bảo nó. Hổng ai trả nó cái gì. Đứa con gái đó chiết khí, sống, lên Thành Cây. Giờ là sư phụ tui.

Tôi nhìn quanh vòng tròn.

– Thằng con trai đó là chủ cũ của bụi này.

Không ai nói gì. Gió chiều thổi qua Bờ Lạc, lá tre xào xạc. Chị quê miệt núi đá quay đi, chùi mắt.

– Rồi sư phụ cô trả ơn bằng cách nuôi măng trộm. – Sóc nói. Không phải để cãi. Anh nói như người ta nói một sự thật.

– Ừ. – Tôi nói. – Nên tui mới cần mấy anh chị cho. Để người ta thấy cho là cái gì. Để sư phụ tui thấy.

Mơ ngẩng lên. Mặt nó đầm đìa nước mắt.

– Tao bán ba cây. – Nó nói, giọng vỡ ra. – Mọi người biết rồi đấy. Bán vì bố tao ho ra máu. Tao không bán thì tao không biết làm thế nào. Bốn mươi sáu đứa Đồi Tổ cũng có bố mẹ. Đứa nhà Lạc mười lăm tuổi, đứa ngồi khóc hôm ấy, nó cũng không biết làm thế nào.

Sóc nhìn Mơ, rồi nhìn xuống bàn tay chai sạn của mình, bàn tay kéo lưới từ năm tám tuổi.

– Ở làng tôi, – anh nói, – thuyền ai lật ngoài khơi thì thuyền nào gần nhất phải vớt. Không hỏi thuyền nhà ai. Vớt xong rồi mới cãi nhau chuyện nợ nần. – Anh ngẩng lên. – Tôi cho.

Tới chạng vạng, mười hai người Bờ Lạc ngồi quanh bụi Ông Biển, ấn mười hai dấu tay lên một tờ giấy dó, tờ cuối cùng mẹ tôi gửi lên mà tôi chưa viết thư về. Mơ viết chữ, vì chữ Mơ đẹp nhất. Tờ giấy ghi rõ: Bờ Lạc cho măng, bụi nào cho bao nhiêu cây, cho ai, đổi lấy ba điều kiện. Mơ ấn dấu tay cuối cùng, ngón cái đỏ màu bột điều còn sót trong rương.

Đêm ấy, tôi ngồi một mình dưới cây mắt cong, chọn kiếm tập.

Bụi của tôi có ba cây tre già, ngoài cây tôi nuôi. Tôi chọn cây cong nhất, cây mọc ngả hẳn ra mép vực, đốt nào cũng lệch. Tôi chặt một khúc dài bằng cánh tay, vót đầu, hơ lửa cho thẳng thớ, mà nó vẫn cong. Tôi để nó cong.

Kế hoạch của tôi đơn giản. Bụi nhà Tiêu đã trổ bông, đã rụng lá. Tre trổ bông thì nhựa rút, ruột khô, thân giòn như que củi phơi tháng nắng. Hành Đạt đốt chín, mạnh hơn tôi ba đốt, nhanh hơn tôi, đánh giỏi hơn tôi. Nhưng kiếm tập của nó chặt từ bụi nhà Tiêu. Tôi không cần đánh trúng nó. Tôi chỉ cần đỡ. Đỡ bằng thân tre cong, dẻo, nhún như cái cần câu. Để nó chém. Chém nữa. Chém cho tới khi tre của nó nứt.

Gần nửa đêm, có tiếng bước chân sau lưng tôi. Nhẹ, đều, không vội.

Tôi không quay lại.

Sư phụ đứng cách tôi năm bước, không có đèn, không có giỏ mây. Bà nhìn khúc tre cong trên tay tôi.

– Con định để nó chém cho tới khi tre nhà Tiêu nứt. – Bà nói.

Tôi không trả lời.

– Con biết tre trổ bông thì giòn. – Bà nói. – Hành Đạt cũng biết con biết. Từ hôm con buộc lạt đỏ khắp núi, nó biết.

– Luật bắt kiếm tập phải chặt từ bụi nhà mình. – Tôi nói.

– Luật bắt như thế. – Sư phụ nói. – Mà ai đi kiểm?

Tôi quay lại. Sư phụ đã quay lưng, đi về phía khe. Bà dừng lại ở mép rừng, nói thêm một câu, không quay đầu:

– Tối qua, Kiếm Đường cho người xuống vực Bờ Lạc bằng dây thừng. Ta thấy ánh đèn dưới vách, phía dưới cây của con.

Rồi bà đi.

Tôi ngồi đó tới sáng, khúc tre cong nằm ngang trên đầu gối. Tôi nghĩ cả đêm. Tới lúc gà gáy, tôi nghĩ ra rồi, và tôi cười một mình, cười như con dở, cười tới mức Mơ từ dưới gốc cây của nó phải ngóc đầu dậy hỏi mày làm sao.

Sáng hôm ấy tôi gọi Hành Viễn và Sóc ra mỏm đá đầu Bờ Lạc. Tôi kể cho hai người nghe cái tôi đã nghĩ ra.

– Hành Đạt sẽ đánh bằng tre bụi tui. – Tôi nói. – Tui hổng sợ. Cái tui sợ là chuyện sau trận đấu.

– Sau trận đấu thì sao? – Sóc hỏi.

– Tui mà thắng, thì cả sân biết Kiếm Đường xuống vực Bờ Lạc. Tui sẽ nói luôn chuyện Hang Dơi. Lúc đó ông Cảnh Dực chỉ còn một nước: cho người chạy đi đốt cái hang trước khi Hội đồng tới. – Tôi nhìn Hành Viễn. – Sư phụ tui nói vậy. Bà nói đúng.

Hành Viễn hiểu ngay.

– Cô muốn tôi không tới xem.

– Tui muốn anh với anh Sóc dẫn người Bờ Lạc ra đứng ở miệng Hang Dơi từ sáng sớm. Hổng đánh ai. Chỉ đứng. Ai mang dầu tới thì giữ lại.

– Không xem cô đánh à. – Hành Viễn nói. Giọng anh nghe như đùa, mà mắt thì không.

– Anh xem rồi. – Tôi nói. – Anh xem tui bện dây. Đánh kiếm còn xấu hơn.

Sóc bật cười, tiếng cười chắc nịch như đóng cọc. Anh vỗ vai Hành Viễn một cái, đứng dậy, bảo đi gọi người.

Hành Viễn ở lại thêm một lúc. Anh nhìn vết bầm trên cổ tay tôi, chỗ tôi tập đỡ kiếm suốt đêm.

– Đừng để nó đánh trúng vai. – Anh nói. – Hành Đạt quen bổ xuống vai trái. Từ nhỏ đã thế.

Bốn ngày sau, sân đá trước Tiết Đường đông nghẹt. Cả toàn môn tới xem. Chưởng môn ngồi trên bục, mắt nhắm. Các trưởng lão ngồi thành hàng. Sư phụ ngồi cuối hàng bên phải. Tiêu Cảnh Dực ngồi đầu hàng bên trái, khoanh tay, mỉm cười.

Tiêu Hành Đạt bước vào sân. Hai mươi bốn tuổi, cao lớn như cha, áo xanh thẫm, tóc buộc gọn. Tay anh ta cầm kiếm tập.

Cả sân ồ lên một tiếng.

Thanh kiếm tập ấy không phải tre nhà Tiêu. Vỏ nó xanh xám, lông thưa. Và ở mỗi đốt, cái mắt tre không tròn. Nó dẹt, cong, lệch qua một bên, như con mắt người đang nheo cười.

— Hết chương 7 —

Mục lục Năm tre Rừng Kiếm trổ bông

  1. 1Tre Đồi Tổ trổ bông7 phút
  2. 2Lạt đỏ, lạt trắng9 phút đọc
  3. 3Tấm bia trong miếu hoang10 phút đọc
  4. 4Ba ngón tay ở Tiết Đường9 phút đọc
  5. 5Giếng trời sau Hang Dơi10 phút đọc
  6. 6Người tưới măng lúc nửa đêm9 phút đọc
  7. 7Mười hai dấu tay dưới bụi Ông Biển9 phút đọc
  8. 8Thanh kiếm cong về phía chủ10 phút đọc
  9. 9Ba trăm mười bảy cây măng10 phút đọc
  10. 10Rừng Chung9 phút đọc

Về truyện này

Năm tre Rừng Kiếm trổ bông là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →