AI Truyện
Năm tre Rừng Kiếm trổ bông

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Người tưới măng lúc nửa đêm

Năm tre Rừng Kiếm trổ bông · Chương 6/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 6: Người tưới măng lúc nửa đêm

Sư phụ ngồi xuống cái ghế gỗ dưới mái lá ở góc chảo, đặt đèn lồng lên bàn, đặt cái gáo dừa cạnh đó. Bà chỉ cho chúng tôi ba cái giỏ úp làm ghế. Không ai ngồi. Mơ đứng nép sau lưng tôi. Hành Viễn đứng cạnh hàng măng có tên mình.

– Ngồi đi. – Sư phụ nói. – Chuyện dài.

Tôi ngồi. Không phải vì bà bảo. Mà vì chân tôi không đứng được nữa.

– Bốn mươi năm trước, – sư phụ nói, – nhà Mạnh còn có một bụi trên Đồi Tổ. Bụi thứ mười lăm. Năm ta mười lăm tuổi, đốt bốn, mùa khô có sét đánh cháy rừng. Lửa liếm qua một góc Đồi Tổ, đúng bụi nhà ta. Cháy trụi. Cây của ta đứng trong bụi đó.

Bà nhìn đèn lồng.

– Theo luật, ta rụng đốt. Mười lăm tuổi, về tay trắng. Cha ta chạy khắp Đồi Tổ xin một cây măng trắng cho ta chiết. Mười ba họ còn lại, không họ nào cho. Măng Đồi Tổ là để cho con cháu nhà mình. Nhà Mạnh mất bụi rồi, thì nhà Mạnh hết là Đồi Tổ.

– Rồi sao? – Mơ hỏi, rất khẽ.

– Rồi một thằng con trai Bờ Lạc, mười bảy tuổi, quê ở tận vùng biển, đêm ấy đào một cây măng từ bụi của nó, mang lên đặt trước cửa nhà ta. Không nói tên. Ta chiết vào cây măng ấy. Ta sống. – Sư phụ ngừng lại. – Ba năm sau, nó chết trong một trận lũ quét ở chân núi, lúc đi xuống chợ mua muối. Ta chưa kịp nói với nó một câu cảm ơn cho ra hồn. Cây tre ta nuôi tới Thành Cây, hạ kiếm, là con của bụi tre nó. Bụi ấy giờ vẫn còn, ở Bờ Lạc, gần chỗ cây của Mơ.

Tôi nhìn bà. Năm năm, bà chưa từng kể chuyện này.

– Nên con hiểu vì sao năm năm trước, – sư phụ nói, nhìn tôi, – không ai chịu nhận một đứa con gái Bờ Lạc, mà ta nhận.

– Con hiểu. – Tôi nói. Giọng tôi khàn đặc. – Nên con hổng hiểu cái hang này.

Sư phụ nhìn quanh lòng chảo. Ba trăm cây măng trong sương.

– Bốn mươi sáu đứa. – Bà nói. – Năm năm nay, đứa nào lên núi Đâm Măng, ta dạy kiếm quyết nhập môn cho đứa ấy. Đứa nhà Lạc năm nay mười lăm tuổi, đứa ngồi khóc dưới gốc tre sáng hôm ấy, năm ngoái nó sốt, ta thức hai đêm với nó. Ta biết tên bốn mươi sáu đứa. Biết đứa nào thích ăn ổi, đứa nào sợ sấm.

Bà quay sang tôi.

– Sáng hôm tre trổ bông, ta là người đầu tiên đi gặp Tiêu Cảnh Dực. Ta xin Kiếm Đường mua măng của Bờ Lạc. Mua cho đàng hoàng, trả giá cao, làm giấy. Cảnh Dực cười. Ông ấy bảo, Bờ Lạc sẽ không bán, vì bán măng là bán đời sau. Mà có bán, thì từ nay người Bờ Lạc sẽ biết Đồi Tổ cần măng của họ để sống. Ông ấy bảo, thế là mười bốn họ cúi đầu trước mười hai đứa không có họ. Ông ấy không cúi.

– Nên ông ta đào. – Hành Viễn nói. Giọng anh lạnh như nước suối.

– Ông ấy cho người đào. – Sư phụ nói. – Còn ta, ta là người duy nhất trên núi này từng chiết khí, từng nuôi một cây măng lạ sống qua mùa khô. Nên ta nuôi chúng. Măng đào lên mà không ai chăm thì ba ngày là héo. – Bà nhìn những rãnh nước nhỏ. – Ta tìm ra cái giếng trời này. Ta dẫn nước. Đêm nào ta cũng xuống.

– Còn lệnh đốt. – Tôi nói. – Sư phụ đề nghị rút hạn.

Sư phụ im một lúc.

– Bụi nhà Tiêu đã rụng lá. – Bà nói. – Con thấy rồi đấy. Không phải năm tháng như lũy tre xóm con. Tre Đồi Tổ già quá, đi nhanh hơn. Bụi Tiêu còn chừng mười lăm ngày. Chiết khí cho một đứa mất ba ngày. Bốn mươi sáu đứa, ta với mấy người Kiếm Đường biết chiết, làm không xuể nếu không bắt đầu ngay. Mà Cảnh Dực chỉ cho bắt đầu chiết khi Bờ Lạc đã cháy, để không ai còn đếm hố.

– Vậy là sư phụ đổi. – Tôi nói. – Mười hai đứa Bờ Lạc, đổi lấy bốn mươi sáu đứa Đồi Tổ.

Sư phụ nhìn thẳng vào mắt tôi.

– Ta đã nói với mình như thế. – Bà nói. – Mười hai đứa, đốt còn thấp, Kiếm Đường cấp măng mới, tu lại được. Bốn mươi sáu đứa, có đứa đã đốt tám, đốt chín, mười mấy năm. Ta đã tự nói như thế mỗi đêm, lúc tưới mấy cây măng này.

– Đêm nay sư phụ còn nói vậy hông?

Bà không trả lời.

Bà đứng dậy, cầm đèn, đi tới hàng cuối sát vách đá phía đông. Năm cây măng mắt cong. Bà cúi xuống, đặt tay lên đất quanh gốc một cây.

– Bụi của con, – bà nói, không quay lại, – ta đã xin Cảnh Dực gạch khỏi danh sách đốt. Ta bảo cây mắt cong mọc trên mép vực, cách Bờ Lạc một khoảng đá trống, lửa không lan tới. Đốt nó phải trèo ra mép vực, mất công. Ông ấy gật.

Tôi đứng bật dậy. Cái giỏ úp dưới mông tôi lăn lông lốc.

– Sư phụ mua con. – Tôi nói. Tôi không biết mình nói to như vậy. Giọng tôi dội lên bốn bức vách đá vôi, dơi trên trần bay tán loạn. – Sư phụ mua con bằng cây tre của con! Để con im!

– Ta không mua con. – Sư phụ nói, vẫn không quay lại. – Ta chỉ không đốt được con.

Câu ấy làm tôi đứng im.

Lòng chảo yên lặng. Mạch nước rỉ róc rách. Mơ khóc thút thít sau lưng tôi.

Hành Viễn bước tới, đứng trước hàng măng mắt cong. Anh nhìn cái thẻ tên mình. Rồi anh nhổ nó lên, bẻ đôi, đặt hai mảnh lên bàn của sư phụ.

– Con không chiết vào măng trộm. – Anh nói.

Sư phụ quay lại nhìn anh.

– Bụi nhà Tiêu còn mười lăm ngày. Con đốt tám, Hội Hạ Kiếm còn hơn ba mươi ngày. Con không chiết thì con rụng đốt.

– Thì rụng. – Hành Viễn nói. – Nan bảo con bện dây được một sải rồi.

Sư phụ nhìn anh, rồi nhìn tôi. Ở khóe môi bà có một cái gì đó rất giống nụ cười, rất buồn.

– Con định làm gì? – Bà hỏi tôi.

– Con đi nói. – Tôi nói. – Con dẫn Hội đồng tới đây.

– Con đi nói thì sáng mai Cảnh Dực đã biết. – Sư phụ nói, bình thản như giảng một thế kiếm. – Ông ấy không cần cãi. Ông ấy chỉ cần cho người tới đây trước Hội đồng một canh giờ, đổ dầu, châm lửa. Ba trăm cây măng thành tro. Không còn chứng. Rồi mười ngày nữa ông ấy vẫn đốt Bờ Lạc, như đã định. Bốn mươi sáu đứa Đồi Tổ không có măng chiết, rụng đốt. Mười hai đứa Bờ Lạc mất cây, rụng đốt. Con được gì?

Tôi há miệng. Rồi ngậm lại.

Bà nói đúng. Tôi ghét cái cách bà nói đúng.

– Ta không cản con. – Sư phụ nói. Bà đặt cái gáo dừa xuống chum. – Ta cũng không giúp con. Ta còn ba trăm cây măng phải tưới trước khi trời sáng.

Bà quay lưng, cầm đèn, đi dọc hàng giỏ, cúi xuống từng cây măng, như chúng tôi không còn ở đó.

Chúng tôi rời hang lúc gần sáng. Không ai nói gì suốt quãng đầu. Qua thác khô thứ nhất, Mơ ngồi phịch xuống, ôm đầu gối. Hành Viễn đứng nhìn trời. Tôi cuộn dây lạt, cuộn mãi không xong vì tay run.

Tới thác khô thứ hai thì tôi không đi được nữa. Tôi ngồi xuống một tảng đá, và nước mắt tự trào ra, không có tiếng, không có nấc, cứ chảy, như mạch nước rỉ trên vách giếng trời. Năm năm trên núi, tôi chưa khóc lần nào. Hôm bà nội mất, tôi đọc thư nhà dưới gốc cây mắt cong, rồi đi tưới khí như mọi sáng.

Hành Viễn ngồi xuống cạnh tôi. Anh không nói gì, không đưa tay ra. Anh chỉ ngồi đó, gần tới mức vai áo anh chạm vai áo tôi.

– Bài đầu tiên sư phụ dạy tui, – tôi nói, khi đã nói được, – là cầm kiếm như cầm lạt. Bà bảo con gái xóm đan đát thì hiểu ngay: siết chặt quá thì lạt đứt, cầm lỏng quá thì lạt tuột. Phải vừa tay. Phải nghe được sợi lạt nó muốn đi đâu.

– Bà dạy hay. – Hành Viễn nói.

– Bà dạy hay. – Tôi nói. – Năm năm, tối nào bà cũng ngồi sửa cổ tay cho tui, từng chút. Đứa con gái Bờ Lạc đầu tiên có trưởng lão nhận. Người ta cười bà. Bà hổng nói lại ai câu nào.

Tôi chùi mặt bằng ống tay áo.

– Vậy mà đêm nào bà cũng xuống cái hang này tưới măng trộm của Bờ Lạc. Tui hổng biết nên giận ai. Giận bà, hay giận tui vì vẫn thương bà.

Hành Viễn im một lúc lâu.

– Tôi cũng vậy. – Anh nói. – Với chú tôi.

Mơ ngồi ở bậc thác phía trên, nhìn xuống hai đứa chúng tôi. Nó không chen vào. Một lúc sau nó mới lên tiếng, giọng khàn khàn:

– Phải có cách. – Nó nói. – Phải có cách cho cả hai bên.

– Có. – Tôi nói.

Hai người quay sang nhìn tôi.

– Sư phụ nói Bờ Lạc sẽ hổng bán. – Tôi nói chậm. – Vì bán măng là bán đời sau. Nhưng đâu ai hỏi Bờ Lạc có cho hông.

– Cho? – Mơ trợn mắt. – Cho cái lũ đã đào trộm măng của mình?

– Cho bốn mươi sáu đứa nhỏ. – Tôi nói. – Hổng phải cho Tiêu Cảnh Dực.

Mơ nhìn tôi như nhìn một đứa điên. Hành Viễn thì không. Anh nhìn tôi rất lâu, như người đang đếm từng đốt trên một cây tre.

– Cô muốn đổi lấy cái gì? – Anh hỏi.

– Hổng còn Đồi Tổ, hổng còn Bờ Lạc. – Tôi nói. – Tre nào cũng là tre. Măng nào cũng là măng.

Trời sáng. Chúng tôi về tới Bờ Lạc thì thấy trên cây mắt cong của tôi có một mảnh vải đỏ buộc ngang thân. Không phải lạt. Vải lụa đỏ thẫm, viền chỉ bạc.

Tôi biết mảnh vải ấy. Ở núi Bảy Đốt, đó là khăn Thử Kiếm. Buộc khăn lên cây của ai là thách người ấy đấu một trận trước Hội Hạ Kiếm. Thua thì mất quyền ở lại núi. Thua thì mọi chứng đã dâng, mọi lời đã nói, Hội đồng không còn phải nghe.

Ở góc khăn thêu một cái tên bằng chỉ vàng.

Tiêu Hành Đạt. Đốt chín.

— Hết chương 6 —

Mục lục Năm tre Rừng Kiếm trổ bông

  1. 1Tre Đồi Tổ trổ bông7 phút
  2. 2Lạt đỏ, lạt trắng9 phút đọc
  3. 3Tấm bia trong miếu hoang10 phút đọc
  4. 4Ba ngón tay ở Tiết Đường9 phút đọc
  5. 5Giếng trời sau Hang Dơi10 phút đọc
  6. 6Người tưới măng lúc nửa đêm9 phút đọc
  7. 7Mười hai dấu tay dưới bụi Ông Biển9 phút đọc
  8. 8Thanh kiếm cong về phía chủ10 phút đọc
  9. 9Ba trăm mười bảy cây măng10 phút đọc
  10. 10Rừng Chung9 phút đọc

Về truyện này

Năm tre Rừng Kiếm trổ bông là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →