AI Truyện
Năm tre Rừng Kiếm trổ bông

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn

Tấm bia trong miếu hoang

Năm tre Rừng Kiếm trổ bông · Chương 3/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Tấm bia trong miếu hoang

Đường lớn đi Thung Vắng bị chắn, thì còn đường nhỏ. Đường nhỏ là cái vực.

Cây mắt cong của tôi mọc chênh vênh ngay mép vực Bờ Lạc, gốc bám vào đá, thân nghiêng hẳn ra ngoài như người cúi xuống nhìn đáy giếng. Năm năm nay ai cũng chê nó. Người ta bảo tre mọc kiểu đó thì chặt làm kiếm cũng cong, đánh không trúng ai. Tôi chưa bao giờ cãi. Nhưng tôi biết một điều mà người Đồi Tổ không biết: tre cong thì dẻo, và tre bám đá thì rễ sâu tới tận lòng núi.

Tối hôm ấy, tôi ngồi dưới gốc nó bện dây. Lạt tre chẻ mỏng, ba sợi bện một, ba dây bện một, như người xóm Đát Tre bện dây buộc ghe. Mơ ngồi chẻ lạt cho tôi. Hành Viễn ngồi nhìn.

– Tôi chưa thấy ai bện dây bằng lạt. – Anh nói.

– Ở xóm tui, đàn bà con gái biết bện từ năm tuổi. – Tôi nói, tay không ngừng. – Dây lạt ngâm nước thì càng chắc. Ghe chài neo bến bằng dây lạt cả chục năm.

– Cô dạy tôi được không?

Tôi ngẩng lên nhìn anh. Cháu trưởng lão Kiếm Đường, đốt tám, đệ tử thế gia, ngồi xếp bằng trên lá tre khô ở Bờ Lạc, hỏi học bện dây.

– Tay anh trơn quá. – Tôi nói. – Bện lạt là tróc da.

– Thì tróc.

Tôi đưa cho anh ba sợi lạt. Anh bện sai ba lần, sợi thứ tư thì đứt tay, máu rỉ ra một chấm đỏ trên đầu ngón trỏ. Anh không kêu. Anh mút ngón tay một cái rồi bện tiếp. Tới gần nửa đêm, đoạn dây anh bện dài được một sải, xấu như cái đuôi chuột, nhưng không tuột.

Mơ ngồi bên cạnh, nhìn anh, rồi nhìn tôi, rồi cười một mình. Tôi giả vờ không thấy.

Canh ba, dây đủ dài. Tôi buộc một đầu vào gốc cây mắt cong, ngay chỗ thân nó cong nhất, quấn ba vòng, thắt nút ngư phủ. Lá trên đầu xào xạc. Tôi đặt tay lên thân cây một chút, như dặn nó: giữ giùm tao.

Mơ ở lại canh. Nó sẽ rút dây lên khi chúng tôi xuống tới đáy, giấu đi, và thả lại xuống vào đêm mai.

Xuống vực mất gần một canh giờ. Vách đá trơn rêu, tối như đáy nồi, chỉ có cái đèn lồng nhỏ buộc ở thắt lưng Hành Viễn hắt lên chút ánh vàng. Có lúc chân tôi hẫng, cả người đong đưa giữa không trung, dưới chân là tiếng nước chảy ào ào không thấy đáy. Có lúc Hành Viễn trượt, tôi nghe tiếng anh thở mạnh, rồi tiếng tay bám vào dây. Dây lạt kêu răng rắc nhưng không đứt.

Tới đáy vực, chúng tôi ngồi bệt xuống bãi sỏi, thở. Trên đầu, miệng vực chỉ còn là một khe trời hẹp, lấm tấm sao.

– Cây tre của cô, – Hành Viễn nói, khi đã thở được, – nó cong là để làm việc này.

– Nó cong là tại nó mọc trên đá. – Tôi nói. – Mà mọc trên đá thì làm được việc này.

Chúng tôi ngồi chờ cho trời hửng. Nước suối lạnh buốt, tiếng chảy dội vào vách đá nghe như có ai nói chuyện ở xa.

– Sao anh giúp tui? – Tôi hỏi. Câu này tôi giữ trong miệng từ đêm qua.

Hành Viễn ném một hòn sỏi xuống suối.

– Nếu chú tôi nói đúng, – anh nói, – thì đốt Bờ Lạc, tre Đồi Tổ khỏi bệnh, cây của tôi sống. Nếu cô nói đúng, thì đốt Bờ Lạc, tre Đồi Tổ vẫn chết, cây của tôi vẫn chết, mà mười hai người Bờ Lạc chết theo.

– Anh tin ai?

– Tôi tin cái màu lạt sáng nay. – Anh nói. – Đốt nhà người ta mà không cứu được nhà mình thì tôi không muốn tên mình đứng trong đó.

Anh im một lúc, rồi nói thêm, nhỏ hơn:

– Với lại, tôi sợ. Tôi tám tuổi lên núi. Mười bốn năm. Tôi chưa biết làm gì khác ngoài nuôi một cây tre. Rụng đốt thì tôi là người không biết làm gì.

– Thì về xóm tui. – Tôi nói. – Học bện dây. Anh bện được một sải rồi đó.

Anh bật cười, tiếng cười dội lên vách đá, rồi im bặt như sợ có người nghe thấy.

Theo suối dưới đáy vực đi về phía tây, trời sáng thì chúng tôi tới chỗ hai ngọn núi giao nhau. Từ đó leo lên một sườn dốc thoai thoải, đi thêm nửa canh giờ nữa thì tới Thung Vắng.

Thung Vắng đúng như tên. Một lòng chảo nhỏ, cỏ tranh cao ngang ngực, không một bóng người, không một tiếng chim. Giữa lòng chảo có một ngôi miếu nhỏ đổ nát, và cạnh miếu, trên một gò đất, là chỗ bụi tre nhà Phùng.

Là chỗ. Vì bụi tre không còn ở đó nữa.

Tôi đã tưởng tượng cái bụi ấy suốt đêm, lúc treo mình trên vách đá. Một bụi tre già ba mươi năm, đứng một mình giữa lòng chảo, ngọn lấm tấm vàng, không có ai canh, không có ai khóc dưới gốc. Tôi đã nghĩ mình sẽ đứng dưới nó, chỉ lên ngọn mà nói với Hành Viễn: thấy chưa. Tôi đã nghĩ tới cả câu nói ấy.

Chúng tôi đứng trên miệng lòng chảo nhìn xuống. Trên gò đất chỉ còn một vạt gốc tre, chặt sát đất, vết chặt còn trắng, còn rỉ nhựa. Cạnh đó là một đống tro to bằng cái chòi, còn bốc khói nghi ngút. Mùi tre cháy, khét mà ngòn ngọt, bay tới tận chỗ chúng tôi đứng.

Hành Viễn đứng như hóa đá.

– Đêm qua. – Anh nói. – Họ đóng đường để làm việc này.

Tôi không nói gì. Tôi chạy xuống. Hành Viễn chạy theo.

Gần đống tro, tôi quỳ xuống, cầm một khúc tre cháy dở lên. Than đỏ còn âm ỉ trong lòng ống, phỏng tay. Tôi bỏ xuống, cầm khúc khác. Rồi khúc khác nữa. Hành Viễn bới phía bên kia đống tro, tay đen nhẻm.

– Đây. – Anh gọi.

Anh giơ lên một cành tre nhỏ, bị đè dưới đáy đống tro nên lửa chưa liếm tới. Cành tre còn xanh một nửa. Ở đầu cành, lủng lẳng mấy chùm bông nhỏ màu vàng úa, như bông lúa non.

Tôi cầm lấy cành tre, nhìn sát. Bông tươi. Mới trổ vài ngày, không thể hơn.

– Một cành chưa đủ. – Hành Viễn nói, nhưng giọng anh đã run lên. – Chú tôi sẽ nói cô bẻ ở Đồi Tổ.

– Thì mình tìm cái chú anh hổng nói được.

Tôi đứng dậy, đi quanh gò đất. Cỏ tranh bị dẫm nát một vòng, dấu chân người, dấu chân ngựa, dấu bánh xe cút kít. Tôi đi tới ngôi miếu đổ. Miếu nhỏ, mái sụp một nửa, bên trong không có tượng, chỉ có một cái bệ đá phủ rêu. Trên bệ đặt một cái bát hương bằng sành, tàn hương cũ đã mục.

Sau bệ, dựng sát vách, có một tấm bia đá thấp, cao chưa tới đầu gối, mặt bia mòn vẹt vì mưa gió.

Tôi quỳ xuống, gạt rêu. Hành Viễn đưa đèn lồng lại gần, dù trời đã sáng, vì trong miếu tối.

Chữ khắc trên bia nông, nét vụng, như người khắc không quen cầm đục. Nhưng vẫn đọc ra được.

"Năm Mậu Thìn, họ Phùng chiết một măng từ bụi Mẹ trên Đồi Tổ, đem về Thung Vắng trồng giữ giống. Bụi Mẹ do tổ sư trồng. Mười bốn họ đều chiết từ đây. Con cháu nhớ lấy."

Chúng tôi đọc đi đọc lại ba lần. Không ai nói gì.

Bụi Mẹ do tổ sư trồng. Mười bốn họ đều chiết từ đây. Một trăm hai mươi năm, Kiếm Phổ của Thất Tiết Kiếm Phái chép mười bốn sự tích cho mười bốn họ. Họ Tiêu gốc ở núi xa. Họ Phùng gốc ở đầm xa. Còn ở đây, trong một ngôi miếu đổ mà chẳng ai còn đến thắp hương, ông tổ nhà Phùng đã khắc lên đá một câu thật thà như câu của bà nội tôi.

Hành Viễn ngồi xuống cạnh tôi. Anh đưa ngón tay dò theo từng nét khắc. Rồi anh cười, một cái cười khàn khàn, nghẹn ở cổ.

– Ông nội tôi nói đúng. – Anh nói. – Mà chú tôi chắc chắn biết cái bia này. Nên mới đốt bụi tre mà không đốt cái miếu. Đốt miếu thì động tới thần, người làm không dám.

Chúng tôi không mang được tấm bia về. Nó nặng hơn một người, chân bia chôn sâu dưới đất. Nhưng xóm Đát Tre có cách của xóm Đát Tre. Tôi lấy trong tay nải ra một tờ giấy dó, mẹ tôi gửi lên để tôi viết thư về mà tôi chưa viết lá nào. Tôi đặt giấy lên mặt bia, lấy một cục than tre cháy dở ngoài đống tro, xoa nhẹ, đều tay lên mặt giấy. Chữ trên bia hiện ra trên giấy, trắng trên nền đen, rõ từng nét vụng.

– Ở xóm tui, ai muốn lấy mẫu hoa văn trên cái nong cũ thì làm vầy. – Tôi nói. – Gọi là dập.

Hành Viễn nhìn tờ giấy, nhìn tôi.

– Cô còn biết làm những gì nữa?

– Nhiều. – Tôi nói. – Mà toàn mấy chuyện người Đồi Tổ hổng thèm học.

Chúng tôi về theo đường cũ, ngược suối. Trời chiều, nước lên, lội tới thắt lưng. Có một đoạn suối chảy xiết, Hành Viễn đi trước, quay lại đưa tay ra. Tôi nắm tay anh. Bàn tay anh có vết đứt mới ở ngón trỏ, vết đứt vì bện lạt đêm qua. Qua tới bờ bên kia rồi, anh không buông ngay. Tôi cũng không rút tay về ngay. Rồi cả hai cùng buông một lúc, như hai người cùng giật mình vì một tiếng động mà không có tiếng động nào.

Chúng tôi tới đáy vực Bờ Lạc lúc trời vừa tối. Sợi dây lạt đã thả sẵn, lủng lẳng trên vách. Leo lên mất gần hai canh giờ, lâu gấp đôi lúc xuống. Lúc tôi bám được vào gốc cây mắt cong, kéo người lên mép vực, thì hai tay đã không còn cảm giác.

Mơ đang ngồi chờ. Nhưng Mơ không reo. Mơ chạy lại đỡ tôi, mặt trắng bệch dưới ánh trăng.

– Chiều nay Hội đồng trưởng lão họp. – Nó nói, không chờ tôi thở. – Rút hạn đốt Bờ Lạc. Còn mười ngày.

– Mười ngày? – Hành Viễn kéo người lên sau tôi, đứng bật dậy. – Chưởng môn cho ba mươi ngày cơ mà.

– Có người trong Hội đồng đề nghị. – Mơ nói. – Bảo tre Đồi Tổ khô nhanh hơn người ta tưởng, chờ ba mươi ngày thì lây hết. Bảo đốt sớm thì cứu được thêm mấy bụi. Hội đồng gật. Chưởng môn không nói gì.

– Chú tôi. – Hành Viễn nghiến răng.

Mơ lắc đầu. Nó nhìn tôi, rồi nhìn xuống đất, như không muốn nói tiếp.

– Không phải trưởng lão Tiêu. – Nó nói. – Ông ấy không cần nói gì. Người đứng lên đề nghị là sư phụ mày.

— Hết chương 3 —

Mục lục Năm tre Rừng Kiếm trổ bông

  1. 1Tre Đồi Tổ trổ bông7 phút
  2. 2Lạt đỏ, lạt trắng9 phút đọc
  3. 3Tấm bia trong miếu hoang10 phút đọc
  4. 4Ba ngón tay ở Tiết Đường9 phút đọc
  5. 5Giếng trời sau Hang Dơi10 phút đọc
  6. 6Người tưới măng lúc nửa đêm9 phút đọc
  7. 7Mười hai dấu tay dưới bụi Ông Biển9 phút đọc
  8. 8Thanh kiếm cong về phía chủ10 phút đọc
  9. 9Ba trăm mười bảy cây măng10 phút đọc
  10. 10Rừng Chung9 phút đọc

Về truyện này

Năm tre Rừng Kiếm trổ bông là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Việt của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →