Chương 5: Giếng trời sau Hang Dơi
Chúng tôi đi lúc trăng lặn. Ba người, một cái đèn lồng bịt vải đen chỉ chừa một khe nhỏ, một con dao rựa chuôi quấn mây và một cuộn dây lạt.
Hành Viễn tới Bờ Lạc lúc canh hai. Tôi kể cho anh chuyện của Mơ. Anh nghe, không nói gì, chỉ hỏi một câu: cái giỏ mây ấy có nắp đan kiểu mắt cáo không. Mơ gật. Anh im lặng rất lâu, rồi bảo: tôi đi với hai người.
Đường suối cạn sau núi là một lòng khe đầy đá cuội, mùa khô không có nước, chỉ có rêu khô bám trên đá như lớp bụi xanh. Đi được một quãng thì gặp thác khô thứ nhất, một bậc đá cao gấp đôi người. Tôi buộc dây vào gốc cây sim mọc trên đỉnh thác, ba người lần lượt leo lên. Thác thứ hai cao hơn. Thác thứ ba thì Mơ phải ngồi nghỉ, hai tay run lẩy bẩy.
– Đêm ấy tao vác giỏ măng leo qua đây một mình. – Nó nói, thở dốc. – Ba đêm liền. Giờ nghĩ lại không hiểu sao tao không ngã.
– Vì mày nghĩ tới ông già mày. – Tôi nói.
Mơ cười, mà mắt lại đỏ lên.
Trong lúc chờ Mơ thở lại, Hành Viễn ngồi xuống cạnh tôi trên một tảng đá. Anh tắt hẳn khe đèn. Trong bóng tối, giọng anh nghe gần hơn.
– Cha mẹ tôi mất năm tôi lên sáu. – Anh nói. – Sốt rét, cả hai, cách nhau mười ngày. Chú tôi đón tôi về nuôi. Chú dạy tôi cầm kiếm tập từ năm bảy tuổi. Đêm nào tôi khóc vì nhớ mẹ, chú ngồi ngoài hiên vót tre tới sáng, không vào, mà cũng không đi ngủ.
Tôi không nói gì.
– Tôi biết cái giỏ mây có nắp đan mắt cáo là của ai. – Anh nói. – Tôi cũng biết bốn đệ tử Kiếm Đường dạo này đêm nào cũng đi đâu, sáng về chân dính bùn đỏ. Tôi biết từ hôm tre trổ bông. Tôi không muốn biết.
– Giờ thì sao?
– Giờ tôi đi theo cô vào cái hang đó. – Anh nói. – Nếu trong đó không có gì, tôi về xin lỗi chú vì đã nghĩ xấu. Nếu có…
Anh không nói hết. Một con chim đêm kêu đâu đó trên vách khe, ba tiếng, rồi im.
– Nếu có thì anh tính sao? – Tôi hỏi.
– Thì tôi vẫn là cháu chú tôi. – Anh nói. – Nhưng tôi không đứng trong cái tên ấy nữa.
Mơ đứng dậy, phủi quần, bảo đi được rồi. Hành Viễn mở hé khe đèn. Ánh vàng rơi xuống mặt anh, và tôi thấy anh đang cắn chặt hàm, như người cố nuốt một miếng gì rất đắng.
Qua thác thứ ba, lòng khe mở ra thành một bãi đất bằng, cây cối um tùm. Ở cuối bãi, dưới chân một vách đá vôi xám, có một cái miệng hang đen ngòm, cao cỡ hai người, rộng cỡ cánh cửa. Từ trong hang bay ra mùi phân dơi, mùi ẩm mốc, và một mùi khác nữa mà tôi nhận ra ngay. Mùi đất mới xới. Mùi măng non.
– Đây. – Mơ thì thầm. – Tao để giỏ ở chỗ hòn đá kia.
Hành Viễn mở hé cái khe đèn. Ánh sáng hắt vào miệng hang. Nền hang có dấu chân, nhiều dấu, đi đi về về, mòn thành lối.
Chúng tôi đi vào.
Hang hẹp dần rồi rộng ra, rồi lại hẹp, như cái ruột. Trên trần, dơi treo thành chùm, kêu rúc rích khi ánh đèn lướt qua. Đi được chừng trăm bước, phía trước có ánh sáng. Không phải ánh lửa. Ánh sáng xanh xám, mờ mờ, như ánh trời lúc sắp sáng.
Rồi hang mở ra.
Tôi đứng sững ở miệng ngách, Mơ va vào lưng tôi.
Trước mặt chúng tôi là một cái giếng trời. Một lòng chảo đá vôi tròn, rộng bằng cả sân Tiết Đường, vách đá dựng đứng bốn phía, trên đỉnh mở ra một khoảng trời đầy sao. Sương đọng dưới đáy chảo như sữa. Và trong sương, xếp thành từng hàng thẳng tắp như ruộng mạ, là những cái giỏ.
Hàng trăm cái giỏ mây. Giỏ nào cũng đầy đất đen, ẩm, và trong mỗi giỏ là một cây măng tre non, cao chừng gang tay, có cây cao tới đầu gối. Quanh các hàng giỏ có những rãnh nước nhỏ dẫn từ một mạch nước rỉ trên vách, róc rách. Ở góc chảo, dưới một mái lá, có một cái bàn gỗ, mấy cái thuổng, một chồng giỏ chưa dùng, và một cái chum nước.
– Trời đất. – Mơ thì thào.
Hành Viễn không nói gì. Anh bước tới hàng giỏ gần nhất, cúi xuống. Cạnh mỗi cây măng, cắm sâu vào đất, có một cái thẻ tre nhỏ. Trên thẻ có chữ, khắc bằng mũi dao rồi hơ lửa cho đen.
Anh cầm một cái thẻ lên, giơ sát khe đèn.
"Lạc Thị Uyển. Đốt năm."
Anh cắm lại, cầm cái bên cạnh.
"Phùng Văn Kỳ. Đốt bảy."
Cái tiếp theo.
"Tiêu Hành Đạt. Đốt chín. Dự phòng."
Hành Viễn đặt cái thẻ xuống rất chậm, như sợ nó vỡ.
Tôi đi dọc các hàng giỏ. Tôi không cần đọc thẻ. Tôi nhìn măng. Măng tre lạc không giống măng tre Đồi Tổ. Măng Đồi Tổ thẳng, vỏ nâu bóng, lông mịn. Còn măng ở đây, cây nào cũng một kiểu khác: cây vỏ tím, cây vỏ xanh có sọc, cây lông cứng như gai. Tôi nhận ra từng kiểu. Kiểu này là bụi của thằng nhỏ làng biển. Kiểu này là bụi của hai chị em quê miệt núi đá. Kiểu này, vỏ vàng nhạt, ngọn hơi xoắn, là bụi của Mơ.
– Măng của tao. – Mơ quỳ xuống trước ba cái giỏ, giọng lạc đi. – Ba cây của tao đây.
Tôi đếm. Bốn mươi sáu hàng, mỗi hàng chừng bảy tám giỏ. Hơn ba trăm cây măng. Bờ Lạc có mười hai đệ tử, ba mươi mấy bụi tre lạc. Mỗi bụi một mùa nhú bốn năm cây măng. Tôi tính trong đầu, rồi thôi không tính nữa. Không phải chỉ mua măng của một đứa con gái có cha ho ra máu. Là đào. Đêm này qua đêm khác. Bụi nào ở Bờ Lạc cũng bị đào. Người Bờ Lạc thấy hố thì đổ cho nhím.
Ở hàng cuối, sát vách đá phía đông, tôi dừng lại.
Hàng này chỉ có năm giỏ. Năm cây măng, vỏ xanh xám, lông thưa. Và ở cái đốt đầu tiên vừa nhú lên khỏi bẹ, cái mắt tre không tròn. Nó dẹt, cong, lệch qua một bên, như con mắt người đang nheo cười.
Tôi quỳ xuống, đưa tay chạm vào cây măng gần nhất. Lòng bàn tay tôi ấm lên. Rất nhẹ. Như khi tôi đặt tay lên thân cây mắt cong mỗi sáng. Tre nhà nào nghe tiếng chủ nhà nấy, và đây là con của cây tre tôi. Nó nhận ra tôi.
Mùa này bụi của tôi nhú bảy cây măng. Năm cây mọc ở phía vực, dưới mép đá, chỗ tôi không với tới được. Tôi tưởng chúng bị chồn đá ăn, tôi còn đứng trên mép vực chửi con chồn suốt một buổi sáng.
Tôi nhìn cái thẻ tre cắm cạnh cây măng ấy.
Rồi tôi ngẩng lên tìm Hành Viễn. Anh đang đứng sau lưng tôi, đã đứng đó từ lúc nào. Anh cũng đã đọc cái thẻ.
"Tiêu Hành Viễn. Đốt tám."
Anh không nói gì. Tôi cũng không. Mơ ở hàng bên kia ngẩng lên nhìn chúng tôi, thấy mặt hai đứa, rồi cũng im.
– Tôi không biết. – Hành Viễn nói, cuối cùng. Giọng anh khô khốc. – Nan, tôi thề với cô, tôi không biết.
– Tui biết anh hổng biết. – Tôi nói. Tôi biết thật. Người biết thì không đứt tay vì bện dây lạt. – Nhưng chú anh biết.
Anh nhìn quanh lòng chảo, hơn ba trăm cái giỏ, hơn ba trăm cái thẻ tên. Bốn mươi sáu đệ tử Đồi Tổ chưa tới đốt chín. Bốn mươi sáu hàng.
– Chiết khí. – Anh nói, như nói với chính mình. – Cây cũ còn sống thì chuyển khí sang măng trắng của một bụi khác, bụi chưa trổ bông. Chuyển xong, cây cũ có chết thì người cũng không rụng đốt. Kiếm Phổ có chép cách chiết, nhưng chép là chỉ dùng khi cây bị sét đánh, bị lửa rừng. Chưa ai chiết cả bốn mươi sáu đứa cùng một lúc.
– Mà măng đâu ra cho đủ bốn mươi sáu đứa, mỗi đứa năm bảy cây dự phòng. – Tôi nói. – Bờ Lạc. Rồi Bờ Lạc bị đào hết măng, gốc bụi nào cũng lỗ chỗ hố. Ai mà nhìn thấy thì biết ngay. Nên phải đốt.
Mơ đứng bật dậy.
– Đốt Bờ Lạc không phải để trừ bệnh. – Nó nói, giọng run lên vì giận. – Là để lấp hố.
– Để lấp hố. – Tôi nói. – Mười ngày nữa đốt, tre Bờ Lạc thành tro, mười hai đứa mình rụng đốt, Kiếm Đường cấp măng mới, không ai còn đếm được bụi nào mất bao nhiêu măng. Còn ở đây, bốn mươi sáu đứa Đồi Tổ chiết khí xong, đi Hội Hạ Kiếm như chưa có chuyện gì.
Chúng tôi đứng im giữa ba trăm cây măng. Mạch nước trên vách rỉ róc rách. Một con dơi bay vụt qua khoảng trời trên đầu, che mất một ngôi sao rồi lại thôi.
Rồi có tiếng bước chân.
Không phải từ miệng hang chúng tôi vừa đi vào. Từ phía bên kia lòng chảo, nơi vách đá có một ngách nhỏ mà tôi chưa để ý. Tiếng bước chân nhẹ, đều, không vội, giống người đi con đường mình đã đi trăm lần. Một ánh đèn lồng hiện ra trong ngách, vàng ấm, lắc lư theo nhịp bước.
Hành Viễn đưa tay đóng khe đèn của mình lại. Tối. Mơ thụp xuống sau một hàng giỏ. Tôi không nhúc nhích. Tôi không nhúc nhích được.
Ánh đèn đi ra khỏi ngách, đi vào giữa lòng chảo, đi dọc hàng giỏ đầu tiên. Người cầm đèn dừng lại ở từng cây măng, cúi xuống, múc nước từ cái chum ra một cái gáo dừa, tưới vào gốc. Rồi đặt bàn tay lên đất quanh gốc, ấn nhẹ, như người thử độ ẩm của luống mạ.
Người ấy mặc áo nâu sẫm. Tóc búi thấp. Tay trái xách một cái giỏ mây có nắp đan kiểu mắt cáo.
Người ấy tưới tới hàng cuối cùng, sát vách đá phía đông, nơi có năm cây măng mắt cong. Rồi dừng lại. Vì tôi đang quỳ ở đó.
Đèn lồng giơ lên. Ánh vàng rọi vào mặt tôi.
Sư phụ tôi nhìn tôi. Bà không giật mình. Bà không lùi lại. Bà chỉ đứng đó, cái gáo dừa còn nhỏ nước tong tỏng trên tay, mặt xanh như người thiếu ngủ ba đêm liền, và thở ra một hơi rất dài, như người vừa đặt xuống một gánh nặng mà mình đã biết từ lâu là sẽ phải đặt xuống.
– Con tới rồi. – Bà nói.
— Hết chương 5 —

⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe
⚡ Tiên hiệp & huyền huyễn🎧 Nghe