Chương 7: Cánh cửa sắt màu xanh ở Gò Vấp
Chiếc xe giường nằm rời bến Phan Rang lúc mười giờ tối thứ Sáu, giữa tháng Bảy. Tôi nằm tầng trên, giường số mười bốn. Mẫn Nghi nằm tầng dưới, giường số mười ba, ngay dưới tôi. Chiếp nằm cuối xe, chung hàng với bốn thùng nho đỏ của ông Tư Nho gửi cho một vựa trái cây ở chợ đầu mối.
Đó là cái cớ. Ông Tư Nho có mối mua nho ở Sài Gòn từ hai chục năm nay, mỗi mùa gửi xe đò vài chục thùng. Năm nay ông bệnh, Chiếp lần đầu tiên đi giao. Chiếp mười chín tuổi, có căn cước, có tiền ông đưa đi đường. Tôi nói với má là đi phụ Chiếp khiêng nho. Mẫn Nghi nói với bà Thơ là đi với Diệu Lý lên Đà Lạt chơi hai ngày. Diệu Lý đồng ý nói dối giùm, với một điều kiện: mỗi ba tiếng phải nhắn cho nó một tin, ghi rõ đang ở đâu.
– Ông chụp cái bảng chỉ đường. – Nó dặn tôi. – Không chụp thì tui không tin.
Ky không đi được, nó phải phụ bà nung mẻ hàng cho mùa du lịch. Nhưng chiều hôm đó nó ghé bến xe, dúi vào tay Mẫn Nghi một gói bánh tráng nướng mè đen của bà Phấn, rồi đứng nhìn xe chạy, tay đút túi quần, không vẫy.
Xe chạy dọc quốc lộ. Tôi nằm nghe tiếng máy rì rì, nhìn những ánh đèn xe tải ngược chiều lướt qua trên trần. Ở giường bên dưới, Mẫn Nghi trở mình liên tục.
Gần một giờ sáng, nó gõ lên đáy giường tôi ba cái.
Tôi thò đầu xuống. Nó nằm nghiêng, mắt mở, trong ánh đèn xanh mờ của xe.
– Ông ngủ chưa.
– Chưa.
– Tui sợ. – Nó nói. Rồi nó im lâu. – Tui sợ mẹ tui nhìn tui mà không nhận ra.
– Bà giống mẹ bà y chang. Tui thấy hình rồi.
– Thì đó. – Nó nói. – Tui sợ mẹ tui nhìn tui như nhìn cái gương. Rồi né.
Tôi không biết trả lời gì. Tôi thò tay xuống, qua khe giữa hai tầng giường. Một lúc sau, có một bàn tay lạnh nắm lấy. Nó nắm như nắm cái thành giường, chặt, không mềm mại gì. Chúng tôi giữ nguyên như vậy cho tới khi xe dừng ở trạm nghỉ gần Phan Thiết, tài xế bật đèn sáng trưng, và nó buông ra.
Năm giờ sáng, xe vào bến. Chiếp giao nho ở chợ đầu mối xong thì bảy giờ, ba đứa bắt xe buýt đi Gò Vấp.
Con hẻm số chẵn nằm trong một con hẻm lớn khác, phải hỏi ba người mới tìm ra. Hẻm rộng vừa một chiếc xe máy, hai bên nhà ống chen nhau, nhà nào cũng có cửa sắt kéo và một chậu kiểng trước bậc thềm. Có tiếng rao bánh mì, tiếng radio, tiếng một ông già ho khục khặc. Căn nhà trong tấm ảnh là căn thứ bảy bên tay trái, cửa sắt sơn xanh, ban công tầng hai treo một cái lồng chim trống.
Đầu hẻm có một quán cà phê cóc, mấy cái ghế nhựa thấp kê dưới mái tôn. Chúng tôi ngồi đó. Chiếp gọi ba ly cà phê sữa đá. Mẫn Nghi không uống. Nó ngồi im, hai tay ôm cái ba lô trong lòng. Trong ba lô là cái hộp thứ mười hai, cái hộp tôi không gửi, mà nó lấy lại trong tủ bà Thơ.
Tám giờ kém mười, cánh cửa sắt màu xanh kéo ra.
Một người đàn bà dắt xe máy ra, trước bụng địu một đứa con nít mập ú. Tóc cột cao, mặt không cười. Bà mặc áo đồng phục công ty màu xanh dương, đội mũ bảo hiểm, cúi xuống chỉnh lại cái nón vải trên đầu đứa con. Rồi bà ngồi lên xe, nổ máy, chạy ngang qua quán cà phê cóc, cách chỗ Mẫn Nghi ngồi đúng hai mét.
Mẫn Nghi không động đậy. Tay nó trên cái ba lô trắng bệch.
Chiếc xe máy chạy ra đầu hẻm, quẹo trái, mất hút.
Chiếp nhìn tôi. Tôi nhìn Mẫn Nghi. Nó nhìn xuống ly cà phê sữa đá không ai uống, đá đã tan thành một lớp nước trong nổi lên trên mặt.
– Chắc bả gửi con rồi đi làm. – Chiếp nói, khẽ. – Chiều bả về.
Chúng tôi ngồi đợi tới chiều.
Tôi không ngờ một ngày lại dài như vậy. Chiếp đi loanh quanh, mua ba hộp cơm tấm, mua thêm nước, nói chuyện với ông chủ quán về giá nho ngoài chợ. Mẫn Nghi ngồi im, thỉnh thoảng nhắn cho Diệu Lý một tin. Còn tôi thì vẽ.
Tôi chưa bao giờ ở Sài Gòn lâu hơn một buổi. Cái tôi thấy từ quán cà phê cóc không phải những tòa nhà cao mà người ta hay chụp. Cái tôi thấy là những ngôi nhà ống hẹp bề ngang ba mét, cao bốn tầng, mỗi tầng một kiểu, tầng dưới xây hồi xưa, tầng trên xây sau, như ai chồng những cái hộp khác cỡ lên nhau. Ban công nào cũng chật kín: chậu kiểng, giàn phơi đồ, lồng chim, bồn nước inox. Có căn chỉ rộng hai mét mà vẫn cố nhét một cái cầu thang xoắn ốc ra phía trước. Có căn khoét một ô cửa tròn trên tường để lấy gió. Tôi vẽ từng căn. Tôi vẽ cái cầu thang xoắn ốc ba lần mới đúng.
– Ông thích vẽ nhà hả? – Mẫn Nghi hỏi. Đó là câu đầu tiên nó nói từ sáng tới giờ.
Tôi nhìn xuống cuốn tập. Mười hai trang, mười hai căn nhà.
– Tui không biết. – Tôi nói. – Nhà ở đây người ta xây như giải đố. Đất có bao nhiêu thì xây bấy nhiêu, thiếu gió thì khoét lỗ, thiếu chỗ thì xây lên trời. Ở nhà tui đất rộng mênh mông, nhà nào cũng một tầng giống nhau.
– Vậy ông học vẽ nhà đi.
– Học kiến trúc phải thi vẽ. Phải vô Sài Gòn thi. Ba tui...
Tôi không nói hết câu. Mẫn Nghi cũng không hỏi tiếp. Nhưng nó cầm cuốn tập của tôi, lật từng trang, chậm, rồi trả lại.
Năm giờ rưỡi chiều, chiếc xe máy quay lại đầu hẻm.
Lần này Mẫn Nghi đứng dậy trước khi tôi kịp thấy. Nó không chạy. Nó đi bộ, chậm, ôm cái ba lô trước ngực, ra giữa con hẻm, ngay trước cánh cửa sắt màu xanh. Chiếc xe máy chạy tới, phanh lại cách nó ba bước.
Hai mẹ con nhìn nhau qua cái kính mũ bảo hiểm.
Đứa con nít trước bụng người đàn bà ọ ẹ, giơ tay về phía Mẫn Nghi. Trong nắm tay mập ú của nó có một vật nhỏ màu đỏ gạch.
– Nghi. – Người đàn bà nói. Chỉ một chữ. Giọng khàn đi.
Cửa sắt màu xanh mở ra. Một người đàn ông bước ra, mặc áo thun ba lỗ, tay cầm cái điều khiển ti vi.
– Ai vậy em?
Người đàn bà quay lại. Tôi thấy vai bà giật nhẹ, như người bị ai xô từ phía sau.
– Đứa cháu dưới quê. – Bà nói. – Con của chị Hai em.
Tôi đứng ở quán cà phê cóc, cách hai mươi mét, mà vẫn nghe rõ từng chữ. Chiếp đứng bật dậy. Tôi níu áo nó lại.
Mẫn Nghi đứng yên. Rồi nó cúi đầu chào người đàn ông, lễ phép, như chào một người lạ.
– Dạ con chào chú. – Nó nói. – Con ghé gửi đồ cho dì. Ở dưới quê ngoại gửi lên.
Nó mở ba lô, đưa cái hộp thứ mười hai cho người đàn bà. Rồi nó quay lưng, đi về phía quán cà phê cóc, đi thẳng, không ngoái lại, giống hệt hôm ở biển Ninh Chữ.
Tới chỗ chúng tôi, nó ngồi xuống cái ghế nhựa, cầm ly cà phê sữa đá đã tan hết đá từ sáng, uống một hơi cạn sạch.
– Về. – Nó nói.
Chúng tôi chưa kịp đứng dậy thì có tiếng dép chạy trong hẻm. Người đàn bà, đã bỏ mũ bảo hiểm, không còn địu con, chạy về phía quán, tay cầm cái hộp đã xé băng keo. Bà dừng lại trước mặt Mẫn Nghi, thở hổn hển.
Trong cái hộp là một cái chén gốm nhỏ, cỡ lòng bàn tay, màu đỏ gạch, miệng chén méo một bên, không men. Đáy chén có khắc nguệch ngoạc hai chữ cái. Lạch cạch. Tôi đã lắc nó trong tay ở bậc thềm bưu điện.
– Con làm hả? – Người đàn bà hỏi.
Mẫn Nghi không trả lời. Chiếp kéo tôi đứng dậy, đi ra xa, tới tận đầu con hẻm lớn. Chúng tôi đứng đó, quay lưng lại, nhìn xe cộ chạy ngang. Tôi không biết hai mẹ con nói gì với nhau. Tôi chỉ biết là lâu, rất lâu, lâu tới mức Chiếp hút hết hai điếu thuốc mà nó đã hứa với Diệu Lý là bỏ.
Khi chúng tôi quay lại, người đàn bà đã đi vào hẻm. Mẫn Nghi ngồi một mình, hai tay đặt trên đầu gối. Trên bàn, cạnh cái ly không, có một xấp tiền gấp đôi.
– Bả đưa. – Nó nói. – Tui không lấy. Ông Chiếp đem trả giùm tui được không. Bỏ vô cái thùng thư trước cửa.
Chiếp cầm xấp tiền, đi vào hẻm.
– Cái chén. – Tôi hỏi. – Bà làm hả?
– Tui nặn ở nhà bà Phấn hồi tháng Ba. Bà Phấn chỉ. Méo, mà bà nói đựng cháo được. – Nó im một lúc. – Tui nói với bả, cái chén cho thằng nhỏ ăn dặm. Bả hỏi tui có muốn vô đây ở không. Bả nói bả nói chuyện với chú.
– Rồi bà nói sao?
Mẫn Nghi nhìn vô con hẻm, nơi cánh cửa sắt màu xanh đã kéo lại.
– Tui nói ngoại tui còn một sạp nho. Ngoại tui lưng yếu rồi, không khiêng nổi thùng nho. – Nó nói. – Tui nói từ giờ tui không gửi nữa. Bả muốn gửi thì bả gửi. Địa chỉ bả biết rồi.
Chuyến xe về Phan Rang chạy lúc mười giờ tối. Lần này không có giường tầng, chỉ còn ghế ngồi cuối xe, ba đứa ngồi một hàng. Mẫn Nghi ngồi giữa. Xe chạy được nửa tiếng thì nó ngủ, đầu ngả lên vai tôi. Tôi ngồi thẳng lưng suốt năm tiếng không dám cục cựa, mỏi tới mức vai tê dại.
Ở trạm nghỉ gần Phan Thiết, Chiếp nhắn tin cho Diệu Lý, chụp kèm tấm bảng tên trạm như lời dặn. Diệu Lý nhắn lại ngay, dù đã hai giờ sáng: "Ba tui biết rồi. Ba ông cũng biết rồi. Xin lỗi."
Tôi đọc qua vai Chiếp. Tôi không hiểu.
Năm giờ sáng, xe vào bến Phan Rang. Trời còn tối, gió bấc thổi lạnh. Mẫn Nghi tỉnh dậy, dụi mắt, nhìn ra cửa sổ.
Ở bãi đậu xe đối diện bến, dưới ngọn đèn đường vàng, có một chiếc xe tải chở muối đậu sẵn, máy còn nổ. Một người đàn ông đứng tựa thùng xe, hút thuốc, mặt quay về phía cửa xe khách.
Tôi biết cái xe đó. Gương chiếu hậu bên trái của nó có ba con ốc.
— Hết chương 7 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe