Chương 4: Mẻ gốm nung giữa trời
– Thứ Bảy này lặng gió. – Ky nói. – Cả tháng chỉ có một ngày.
Nó nói câu đó như người ta báo tin có người mất. Chúng tôi đang ngồi ở căng tin, giờ ra chơi tiết ba, một ngày đầu tháng Mười Hai năm lớp mười một. Chiếp đang cắn dở ổ bánh mì chả cá, ngừng nhai.
– Thì sao? Lặng gió thì đá bóng sướng.
– Thứ Bảy này tỉnh tuyển đội bóng trẻ. – Ky nói. – Thầy thể dục ghi tên tao rồi. Thầy nói năm nay tao có cửa.
– Thì đi.
– Bà tao phải nung mẻ hàng cho cái khu nghỉ dưỡng ngoài Ninh Chữ. Năm mươi hai cái bình. Nung lộ thiên thì phải lặng gió, gió thổi một bên là lửa ăn một bên, bình nứt hết. Thứ Bảy là ngày duy nhất. Cô Út tao đang nằm viện mổ ruột thừa. Không có ai đốt lò cho bà.
Mẫn Nghi đặt ly nước mía xuống.
– Bà không dời được à?
– Hạn giao là ngày mười lăm. Thứ Bảy tuần sau gió nồm về lại.
Chiếp nuốt miếng bánh mì.
– Mày chọn rồi phải không. – Nó nói, không phải hỏi.
Ky không đáp. Nó nhìn ra sân, chỗ mấy đứa lớp mười đang đá bóng nhựa giữa giờ ra chơi. Có một đứa sút trượt, bóng bay ra tận gốc phượng. Ky nhìn trái bóng lăn cho tới khi nó dừng hẳn.
Sáng thứ Bảy, tôi đạp xe từ đồng muối lên làng gốm Bàu Trúc lúc năm giờ. Mười bảy cây số. Tôi không hỏi Ky có cần không. Tôi chỉ biết nếu tôi ở nhà, tôi sẽ ngồi cả ngày nghĩ về trái bóng lăn tới gốc phượng.
Tới đầu làng thì thấy Chiếp đã ở đó, đang ngồi trên yên chiếc xe máy của ông Tư Nho, gặm bắp nướng. Mẫn Nghi tới sau tôi mười phút, lần này không lạc.
Bàu Trúc buổi sáng không giống những gì tôi từng thấy trên ảnh quảng cáo du lịch. Không có cô gái nào mặc áo truyền thống tạo dáng bên bình gốm. Chỉ có những cái sân đất nện trước nhà, mỗi sân một đống rơm cao, một đống củi, và những dãy bình gốm phơi hàng hàng lớp lớp, màu đất mộc xám nâu, chưa nung. Mùi đất ướt, mùi rơm, mùi khói bếp sáng sớm trộn vào nhau. Mấy bà già đi lại giữa sân, chân trần, váy dài, đầu quấn khăn.
Bà nội Ky tên Phấn, người nhỏ thó, mặt nhăn như trái táo phơi khô, nhưng tay thì to, ngón tay thô và chắc như rễ cây. Bà nhìn ba đứa tôi như nhìn ba cái bình lạ.
– Bạn thằng Ky hả? – Bà nói tiếng Việt chậm, mỗi chữ rơi ra như hạt. – Bạn thằng Ky thì vô phụ. Đứng không thì về.
Ky từ trong nhà bước ra, ôm một bó củi. Thấy chúng tôi, nó đứng sững. Một lúc lâu. Rồi nó đặt bó củi xuống, quay đi, đưa tay quẹt mặt bằng cùi chỏ, như quẹt mồ hôi.
Mười giờ sáng, giờ đội tuyển bắt đầu thử việc ở sân vận động tỉnh, chúng tôi đang xếp bình.
Nung lộ thiên ở Bàu Trúc là thế này: người ta đặt một lớp củi xuống đất, xếp bình lên, miệng úp xuống, cái lớn dưới cái nhỏ trên, thành một cái gò tròn. Rồi phủ rơm lên, phủ thêm củi, phủ thêm rơm, cho tới khi cái gò biến thành một đụn cỏ khô cao hơn đầu người. Không có lò, không có tường, không có nắp. Chỉ có lửa và trời.
– Lửa phải ăn đều. – Bà Phấn nói, chỉ huy từ cái ghế đẩu. – Chỗ nào dày rơm thì lửa mạnh, chỗ nào mỏng thì lửa yếu. Bình nằm chỗ lửa mạnh thì đỏ, nằm chỗ lửa yếu thì đen. Không có cái nào giống cái nào.
Tôi nhớ tới năm con chim đất. Không con nào giống con nào.
Mười một giờ, bà đốt. Lửa bắt từ một góc, liếm lên rơm, rồi trong vòng ba phút cả cái gò bốc cháy, khói trắng cuộn lên thẳng đứng như một cây cột. Không có gió. Cây cột khói đứng sừng sững giữa trời Bàu Trúc, chắc ở tận thành phố cũng thấy.
Việc của chúng tôi là giữ lửa. Bốn đứa mỗi đứa một góc, cầm cây sào dài có buộc nùi rơm. Chỗ nào rơm cháy hết, lộ ra thân bình, thì phải phủ thêm rơm vào ngay, không thì bình bị sốc nhiệt, nứt. Chỗ nào lửa bùng quá thì phải dập bớt. Bà Phấn ngồi trên ghế đẩu, mắt nheo nheo, chỉ bằng cằm: chỗ kia, chỗ kia, thằng mập chỗ kia.
Chiếp là đứa giỏi nhất. Không phải vì nó khỏe. Vì nó đọc được gió. Có những lúc tôi không cảm thấy một chút gió nào, mà Chiếp đã kêu "Nó lên đó, phía Nghi", và quả nhiên hai giây sau cây cột khói nghiêng đi một chút, lửa phía Mẫn Nghi bùng lên. Nó đã sống mười bảy năm dưới giàn nho, nơi chỉ một cơn gió nồm sai mùa là cả vườn rụng hoa.
Mười hai giờ trưa, tôi nhìn Ky. Nó đứng ở góc phía đông, mặt đen nhẻm khói, áo ướt sũng. Trong túi áo nó có cái điện thoại cứ rung lên từng chặp. Nó không móc ra.
– Thầy thể dục gọi hả? – Tôi hỏi khi đi ngang.
– Ừ.
– Mày không nghe?
– Nghe làm gì. Nghe rồi tao muốn đi.
Lúc đó bà Phấn gọi lớn một câu tiếng Chăm. Ky chạy về phía bà. Hai bà cháu nói gì đó với nhau, nhanh, bà chỉ vào một chỗ trên cái gò lửa, phía nam, nơi rơm đã cháy hết và lộ ra một mảng đen. Ky giật cây sào, chạy tới, phủ rơm. Nhưng không đủ rơm. Đống rơm dự trữ đã gần hết.
– Rơm! – Ky la lên. – Cần rơm!
Chiếp nhìn quanh. Sân nhà bà Phấn đã trống trơn. Nhà bên cạnh có một đống rơm, nhưng của người ta, và người ta không có ở nhà.
Mẫn Nghi chạy ra đường. Nó đứng giữa con đường đất của làng, nhìn hai phía. Rồi nó làm một việc tôi không bao giờ quên: nó đưa con chim đất lên miệng, thổi ba tiếng ngắn liên tiếp. Không phải mật mã nào chúng tôi đã định. Chỉ là tiếng gọi.
Rồi nó hét lên, giọng Sài Gòn rõ từng chữ giữa làng Chăm:
– Có ai có rơm không! Cháy bình bà Phấn!
Mấy cái cửa mở ra. Một bà cụ ló đầu. Rồi hai người đàn bà ôm rơm từ nhà bên kia đường chạy sang. Rồi một ông già vác cả một bó lớn. Trong năm phút, sân nhà bà Phấn có thêm sáu bảy người, ai cũng cầm rơm hay cầm sào, không ai hỏi han gì, cứ thế xông vào giữ lửa. Có người nói tiếng Chăm, có người nói tiếng Việt, có người chửi thằng Chiếp đứng chắn đường bằng cả hai thứ tiếng.
Mảng đen phía nam được phủ lại kịp.
Ba giờ chiều, lửa tàn. Bốn giờ, bà Phấn cho bới. Những cái bình lần lượt hiện ra từ đống tro nóng, màu đỏ gạch, màu cam, màu nâu, chỗ ám khói đen như mây, chỗ loang vàng như nắng. Năm mươi hai cái. Bà Phấn đi một vòng, gõ vào từng cái bằng đốt ngón tay, nghiêng tai nghe.
Ba cái nứt. Bốn mươi chín cái nguyên.
Bà ngồi xuống ghế đẩu, thở ra.
– Đủ. – Bà nói. – Người ta đặt năm mươi, tao làm năm mươi hai là để dư.
Ky ngồi phịch xuống đất, giữa đống tro. Nó nằm ngửa ra, nhìn lên trời, nơi cây cột khói đã tan thành một vệt mờ. Điện thoại trong túi nó lại rung. Lần này nó móc ra, nhìn màn hình, rồi nghe.
– Dạ thầy. – Một khoảng im. – Dạ. Em biết. – Im. – Dạ, năm sau. Dạ.
Nó cúp máy, nằm yên.
Bà Phấn bảo chúng tôi ở lại ăn cơm. Cơm có canh rau lang, cá cơm rim, và một dĩa thịt dê xào lá é mà Chiếp ăn hết một nửa. Ăn xong, trời đã sẩm tối. Bà Phấn ra sân, lượm từ trong đống mảnh vỡ ra ba cái bình nứt, đặt lên bậc cửa. Rồi bà quay lại nhìn tôi, Chiếp và Mẫn Nghi, chỉ vào cái túi áo của Mẫn Nghi, nơi con chim đất đang thò cái đuôi vểnh ra ngoài.
– Con chim đó. – Bà nói. – Tụi bây biết ai nặn không?
– Dạ, bà nặn mà. – Chiếp nói.
Bà Phấn cười. Bà cười mà không há miệng, chỉ có những nếp nhăn quanh mắt dồn lại.
– Tao không nặn chim. Tao nặn bình, nặn nồi, nặn lò. – Bà hất cằm về phía Ky, lúc đó đang ngồi rửa chén ở góc sân. – Thằng đó nặn. Năm nó mười hai tuổi, nó lén lấy đất của tao, nặn mười con, lén bỏ vô mẻ của tao mà nung. Năm con kêu đúng, nó bán cho khách. Năm con kêu sai, nó giấu trong rương. Ở Bàu Trúc, nặn gốm là việc của đàn bà. Nó sợ người ta cười.
Ba đứa tôi quay lại nhìn Ky. Nó vẫn cúi đầu rửa chén, nhưng hai tai đỏ lên như hai mảnh gốm vừa ra lò.
Trên đường về, Chiếp chở Mẫn Nghi, tôi đạp xe theo sau. Tới ngã ba ra quốc lộ, Chiếp dừng xe, quay lại nói với tôi:
– Ông tao bệnh rồi mày.
– Bệnh gì?
– Tuần trước ông té ngoài vườn, nằm đó hai tiếng tao mới thấy. Bác sĩ nói tai biến nhẹ. Giờ ông nói còn ngọng, tay trái chưa cầm được kéo. – Nó nhìn xuống chân. – Vườn nho đang ra lứa cho Tết. Một lứa đó là tiền thuốc của ông cả năm.
Mẫn Nghi ngồi sau, im lặng.
– Bữa nay mày đi phụ thằng Ky, – tôi hỏi, – vậy ai coi vườn?
– Tao nhờ ông Sáu xóm trên. Một ngày thôi được. – Chiếp nói. Rồi nó vặn ga, nhưng không chạy, chỉ để máy nổ bành bạch. – Sênh. Tao năm nay mười tám tuổi rồi. Tao học lại lớp mười là tao chịu thua một năm. Học tới lớp mười một là tao cố lắm rồi.
– Mày nói gì vậy?
– Sau Tết tao nghỉ.
Nó nói rồi vặn ga chạy luôn, không đợi tôi trả lời. Mẫn Nghi ngồi sau ngoái lại, nhìn tôi qua ánh đèn đường vàng vọt, rồi chiếc xe máy cà tàng khuất sau khúc quanh.
Tôi đứng ở ngã ba rất lâu. Đường quốc lộ xe tải chạy rầm rầm, cát bụi bốc lên mù mịt dưới đèn. Có một chiếc xe tải chở muối chạy ngang, tôi nhìn theo biển số. Không phải xe ba.
Thứ Hai đi học, tôi leo lên tầng ba, đứng trước cửa lớp 11A1. Diệu Lý ngồi bàn đầu, cúi đầu làm bài. Từ hôm danh sách lớp chọn được dán, nó chưa nói với tôi một câu nào. Nó gầy đi, cằm nhọn ra, tóc vẫn kẹp gọn sau gáy bằng cái kẹp đen.
Tôi không gọi. Tôi chỉ đứng đó. Có lẽ nó cảm thấy, vì nó ngẩng lên.
Tôi đưa tay lên cổ áo, kéo ra một sợi dây dù. Ở đầu sợi dây là con chim đất màu đục của tôi. Tôi đã xâu dây từ hôm qua, đeo trong áo.
Diệu Lý nhìn con chim. Rồi nó quay đi, cúi xuống bài.
Nhưng tay trái nó, đang để trên mặt bàn, khẽ đưa lên ngực áo dài, chạm vào một chỗ hơi gồ lên dưới lớp vải trắng, đúng chỗ người ta hay đeo một vật gì đó bằng sợi dây.
— Hết chương 4 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe