Chương 2: Tấm phông nền gặp gió
– Múa đội nước. – Cô Nguyệt chủ nhiệm nói, mắt sáng lên như vừa tìm ra vàng. – Lớp mình có bạn Ky người Chăm, bà nội bạn làm gốm Bàu Trúc. Mượn mười cái bình, tám bạn nữ đội lên đầu, bạn Ky đứng giữa. Ban giám khảo năm nào cũng mê tiết mục bản sắc.
Cả lớp 10A6 vỗ tay. Tôi nhìn sang Ky. Nó ngồi bàn cuối dãy cửa sổ, tay đang xoay cây bút bi, và cây bút dừng lại giữa chừng.
Hóa ra Mẫn Nghi được xếp vào lớp tôi ngay từ đầu, hôm khai giảng nó đứng nhầm hàng. Giờ nó ngồi bàn trên Ky, quay xuống nhìn nó, rồi nhìn tôi, như muốn hỏi: mày có định nói gì không.
Diệu Lý đứng trên bục, cầm phấn ghi lên bảng: "20/11 – Múa đội nước – Bình gốm: Ky." Nét chữ thẳng như kẻ thước.
– Tao không múa. – Ky nói.
Cả lớp im. Cô Nguyệt cười.
– Bạn Ky không cần múa, chỉ đứng giữa thôi. Mặc áo truyền thống, đứng làm điểm nhấn.
– Tao không đứng.
– Ky, nói chuyện với cô cho đàng hoàng. – Diệu Lý nói từ trên bục.
Ky đứng dậy. Nó cao, nên khi đứng dậy thì cái quạt trần quay vù vù ngay trên đỉnh đầu nó.
– Thưa cô, em không đứng. Mười cái bình của bà em là để bán, bể một cái là bà em mất ba ngày công. Còn em đứng giữa, mặc áo, cho người ta coi, thì em giống cái bình. – Nó ngừng một chút. – Em xin phép cô.
Rồi nó ngồi xuống, tiếp tục xoay cây bút.
Tiết sinh hoạt hôm đó kết thúc trong một thứ im lặng mà ai từng học cấp ba đều biết: cái im lặng của cả lớp đang chờ coi lớp trưởng xử lý ra sao.
Diệu Lý xử lý bằng cách giữ bốn chúng tôi lại sau giờ học.
– Mười tám ngày nữa. – Nó nói, đứng trước bảng, sau lưng vẫn còn dòng chữ "Múa đội nước". – Tiết mục hủy rồi. Cô Nguyệt giận, cô giao hết cho tui. Lớp mình năm nào cũng phải có giải, năm ngoái ba tui làm trưởng ban giám khảo, năm nay ổng cũng làm.
– Thì có sao đâu, ổng chấm lớp con ổng cao một chút. – Chiếp nói.
– Ổng sẽ chấm thấp. – Diệu Lý nói. – Để không ai nói được.
Chiếp ngậm miệng.
– Tui có một bài hát. – Mẫn Nghi lên tiếng, lần đầu tiên tôi nghe nó tự nguyện nói gì trong lớp. – Hồi ở Sài Gòn tui hát trong đội hợp xướng của trường. Bài về thầy cô, ai cũng biết, cả lớp hát bè được. Nhưng hát không thì nghèo. Phải có cái gì phía sau.
Mọi người nhìn tôi.
Đó là cách tôi được giao vẽ phông nền. Một tấm vải trắng ba mét nhân năm mét, căng lên khung tre phía sau sân khấu. Cô Nguyệt duyệt đề tài: "Quê hương Phan Rang". Tôi về nhà, ngồi trên bậc cửa nhìn ra đồng muối, vẽ phác ba ngày mới ra một bản: tháp Chàm đứng trên đồi, phía dưới là đồng muối trắng, xa xa là biển, bên trái là một giàn nho, bên phải là đồi cát với một hàng xương rồng.
Ky nhìn bản phác, cau mày.
– Tháp mày vẽ như cái bánh ú.
– Thì tháp nó vậy mà.
– Tháp có tầng, càng lên càng nhỏ, góc nào cũng có cái tháp con. Cửa giả ba mặt, cửa thật quay về hướng đông. Mày vẽ cửa quay vô biển thì người ta cười.
– Mày vẽ đi.
– Tao không biết vẽ. – Ky nói. Rồi nó cầm cây bút chì của tôi, trên mép giấy, phác ba nét. Ba nét thôi mà ra một cái tháp có tầng, có góc, đứng chắc như mọc lên từ đất. Nó đưa bút lại cho tôi, mặt tỉnh bơ.
Tôi nhìn ba nét chì đó rất lâu.
Chỗ vẽ là cái chòi giữa vườn nho của ông nội Chiếp, ở phía Văn Hải, cách trường hai cây số. Chiếp gọi ông là ông Tư Nho, vì cả xóm đều gọi vậy, vì ông trồng nho từ hồi chưa ai trồng. Ông Tư Nho bảy mươi tám tuổi, lưng còng gần chín mươi độ, suốt ngày đi dưới giàn nho cắt tỉa, đầu chạm cành mà không cần cúi. Ông cho chúng tôi trải tấm vải trên nền xi măng của cái chòi, mỗi chiều mang ra một rổ nho xanh rửa sẵn, chua đến nhăn mặt.
– Nho để bán thì phải ngọt. – Ông nói. – Nho để tụi bây vẽ thì chua cũng được.
Mười mấy ngày đó là lần đầu tiên tôi thấy bốn đứa kia ngoài trường. Chiếp ở nhà thì khác hẳn: nó chạy dưới giàn nho như con sóc to xác, biết chùm nào sắp chín, biết luống nào thiếu nước chỉ bằng cách sờ lá. Năm ngoái nó học lớp mười được nửa năm thì bỏ ngang vì ông bệnh, cả vườn không ai lo. Năm nay ông khỏe lại, nó đi học lại, học lại từ đầu lớp mười chứ không chịu nhờ ai xin lên lớp. "Học lại cho chắc," nó nói, "tao không gấp."
Mẫn Nghi thì chiều nào cũng ra, ngồi ở mép tấm vải, pha màu cho tôi. Nó không bao giờ nói về Sài Gòn, nhưng mỗi lần điện thoại rung là nó chộp lấy, nhìn màn hình, rồi úp xuống. Có một lần tôi thấy nó mở một tin nhắn, đọc, rồi cười một mình. Hôm đó nó pha màu xanh biển đẹp nhất mà tôi từng thấy.
– Mẹ tui. – Nó nói khi bắt gặp tôi nhìn. – Mẹ hỏi bao giờ có lịch nghỉ Tết để mẹ đặt vé.
Diệu Lý ra được ba buổi. Mỗi buổi đúng bốn mươi lăm phút, giữa giờ tan học và giờ học thêm Toán của ba nó. Nó không vẽ, không pha màu. Nó ngồi trên cái ghế nhựa ông Tư Nho đưa, tay cầm tờ giấy tính chi phí: vải bao nhiêu, màu bao nhiêu, khung tre bao nhiêu, ghi từng dòng. Nhưng có một buổi, tôi thấy nó đứng dưới giàn nho, tay cầm con chim đất màu xám nhạt của nó, áp lên môi, mà không thổi. Thấy tôi nhìn, nó cất vô túi ngay.
Ky đến mỗi chiều sau buổi tập bóng. Nó đứng xa, khoanh tay, nhìn tôi vẽ cái tháp. Thỉnh thoảng nó nói "trái" hay "cao chút nữa". Có hôm nó không chịu nổi, giật cây cọ, tô một mảng bóng đổ dưới chân tháp, rồi trả cọ, đi về, không ai kịp nói gì.
Đêm trước ngày diễn, chúng tôi đem tấm phông lên trường, căng lên khung tre sau sân khấu dựng ở góc sân. Tám giờ tối, nó đứng đó dưới ánh đèn vàng: tháp Chàm bốn tầng nhìn về phía đông, đồng muối trắng lóa, giàn nho xanh rì, đồi cát màu nghệ. Chú bảo vệ đi ngang, đứng lại coi, nói "đẹp à nghen". Chiếp xoa đầu tôi như xoa đầu con chó.
Mười một giờ đêm, gió đổi hướng.
Ở Phan Rang người ta biết gió tháng Mười Một. Ban ngày nó thổi từ biển vào, đều đặn, quen thuộc. Nhưng có những đêm nó trở mình, thổi giật từ phía núi xuống, từng cơn một, mạnh như ai đẩy cửa. Tôi đang nằm ở nhà thì nghe mái tôn kêu. Tôi không nghĩ tới tấm phông.
Sáu giờ sáng, chú bảo vệ gọi điện cho cô Nguyệt. Cô Nguyệt gọi cho Diệu Lý. Diệu Lý gọi cho tôi.
Khi tôi tới, khung tre gãy hai cây, tấm vải bị gió giật đứt dây, lôi đi gần năm mươi mét, quấn vào hàng rào sân bóng. Nó rách một đường dài ngay chân tháp, lấm bụi đỏ từ trên xuống dưới. Cái đồng muối trắng giờ nâu như ruộng cày.
Lễ kỷ niệm bắt đầu lúc tám giờ. Tiết mục của lớp tôi là tiết mục thứ chín.
Tôi đứng nhìn tấm vải. Tôi không nhớ mình nghĩ gì. Tôi chỉ nhớ hai tay mình buông thõng.
Một tiếng chim đất vang lên. Một tiếng dài. Rồi một tiếng dài nữa. Trầm như cu gáy.
Chiếp đứng ở cổng trường, xách hai thùng sơn nước của ông nội nó, đầu tóc bù xù như vừa chạy từ Văn Hải lên. Sau lưng nó, Ky ôm một bó tre. Mẫn Nghi ôm hộp màu.
Diệu Lý đứng giữa sân, nhìn đồng hồ, nhìn tấm vải, nhìn chúng tôi. Tôi thấy nó tính. Tôi thấy nó tính như tính một bài toán: còn hai tiếng, vẽ lại cả tấm thì không kịp, giặt thì không khô.
– Không vẽ lại. – Nó nói. – Sửa.
Nó chỉ vào vết bụi đỏ.
– Sênh. Cái này giống cái gì?
Tôi nhìn. Bụi đỏ phủ đồng muối, loang lên chân tháp, bốc thành từng vệt lên trời như khói.
– Giống... gió.
– Thì vẽ gió.
Chúng tôi trải tấm vải ra giữa sân xi măng. Tôi không tẩy bụi. Tôi lấy cọ to, theo từng vệt bụi đỏ, quét thêm màu nghệ, màu cam, kéo chúng thành những dải gió cuộn từ đồi cát tràn qua đồng muối. Đường rách ở chân tháp, Ky không cho may. Nó lấy keo dán hai mép lại, để hở một khe hẹp, rồi tô viền đen quanh khe. Cái khe biến thành một cánh cửa tối dưới chân tháp, cánh cửa thật, quay về hướng đông. Mẫn Nghi pha màu, tay dính sơn tới khuỷu. Chiếp và Ky thay hai cây tre gãy, buộc lại khung bằng dây kẽm xin của chú bảo vệ.
Diệu Lý đứng giữ góc vải cho khỏi bay, tay kia cầm đồng hồ, cứ mười phút đọc giờ một lần như phát thanh viên.
Tám giờ bốn mươi, tấm phông lên lại khung. Bức tranh không còn là bức tranh hôm qua. Nó là Phan Rang trong một buổi chiều gió, cát bay đỏ trời, tháp Chàm đứng yên giữa gió với một cánh cửa tối dưới chân.
Tiết mục thứ chín. Ba mươi tám đứa đứng thành bốn hàng trước tấm phông, Mẫn Nghi đứng giữa, hát câu đầu một mình. Giọng nó run ở chữ thứ ba. Tôi đứng hàng cuối, thấy nó nắm chặt tay, và trong nắm tay đó có một vật màu đỏ gạch thò ra một cái đuôi vểnh. Câu thứ hai nó không run nữa.
Lớp tôi được giải Nhì. Giải Nhất về lớp 12A1, có múa, có đèn, có phụ huynh tài trợ áo. Trưởng ban giám khảo, thầy Kiệm, chấm tiết mục lớp tôi bảy phẩy năm, điểm thấp nhất trong năm giám khảo.
Nhưng trong phần nhận xét, thầy cầm micro nói một câu mà cả trường nghe:
– Tấm phông lớp 10A6 là tấm phông đẹp nhất trường này mười năm nay.
Chiều hôm đó, thầy Kiệm gọi tôi lên phòng giám thị. Ông trả lại cuốn tập vẽ bị tịch thu từ hôm khai giảng. Tôi mở ra ngay ở cầu thang. Con cò đeo kính vẫn đứng đó trên cái bục. Nhưng bên cạnh cái chân duỗi sai của nó, có ai đã vẽ thêm bằng bút chì mờ một cái chân co lên bụng, nét nhỏ, cẩn thận, đúng như cò thật.
Tôi còn đứng ở cầu thang thì nghe giọng thầy trong phòng, qua cánh cửa khép hờ. Ông đang nói chuyện với Diệu Lý.
– Ba biết con ra vườn nho mỗi chiều. Ba biết con trốn học thêm sáng nay. Ba không nói vì lớp được giải.
– Dạ.
– Từ mai con lên ngồi bàn đầu, cạnh bạn Thảo. Không ngồi gần mấy đứa đó nữa. Ra Tết, ba xin cho con thi vào lớp chọn.
Một khoảng im lâu.
– Dạ. – Diệu Lý nói.
Tôi bước xuống cầu thang thật nhẹ, ôm cuốn tập vẽ vào ngực. Ra tới sân, tôi thấy ba đứa kia ngồi đợi trên bậc thềm trước tấm phông đã tháo xuống, cuộn tròn như một cây cột. Chiếp hỏi ông giám thị nói gì. Tôi lắc đầu.
Tối đó, ngồi ở bậc cửa nhà nhìn ra đồng muối tối đen, tôi lấy con chim đất ra thổi thử. Hai tiếng ngắn: có chuyện.
Không ai trả lời. Nhà tôi cách nhà đứa gần nhất mười hai cây số.
— Hết chương 2 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe