AI Truyện
Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương

🎒 Thanh xuân vườn trường

Dài, ngắn, dài

Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương · Chương 10/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 10: Dài, ngắn, dài

Mẻ nung lớn của bà Phấn đốt vào sáng hai mươi ba tháng Tám, một ngày lặng gió. Lần này không ai phải đi tìm rơm. Từ tối hôm trước, Chiếp đã chở ba chuyến rơm từ ruộng ông Sáu xóm trên về chất đầy sân. Diệu Lý ghi bảng phân công: ai giữ góc nào, mấy giờ đổi ca, ai lo nước uống. Mẫn Nghi đem từ sạp bà Thơ lên hai thùng nho đỏ, nói để giải khát. Tôi giữ góc phía tây, chỗ hai năm trước Mẫn Nghi đứng, chỗ lửa hay bùng lên mỗi khi gió trở.

Trong cái gò lửa đó có bảy mươi mốt cái bình của bà Phấn, mười bốn cái của Ky. Mười bốn cái bình đầu tiên Ky nặn mà dám cho người khác thấy, để đem vào Sài Gòn làm hồ sơ cho lớp gốm của ông thầy mà bà dắt nó đi gặp hồi tháng Bảy. Và ở đâu đó trong lòng gò, Ky không chịu nói chỗ nào, có một con chim đất nhỏ bằng quả trứng gà.

Lửa cháy từ mười giờ sáng tới ba giờ chiều. Bốn giờ, bà Phấn cho bới.

Bà bới bình của bà trước. Rồi bình của Ky. Rồi bà để Ky tự bới phần còn lại. Ky quỳ xuống giữa đống tro nóng, đeo đôi găng vải dày, lần tay trong tro như người mò cua. Bốn đứa chúng tôi đứng quanh, không ai nói.

Ky rút tay ra. Trong lòng bàn tay nó là con chim.

Mỏ ngắn, đuôi vểnh, ba cái lỗ, giống hệt năm con chim năm lớp mười. Nhưng màu của nó lạ. Không đỏ gạch như con cũ của Mẫn Nghi, không xám như của Diệu Lý, không đục như của tôi. Nó có màu cam sẫm, lốm đốm những chấm nhỏ màu đỏ đậm hơn khắp thân, như ai rắc một nắm hạt tiêu lên. Ở chỗ lưng, nơi con cũ có vệt khói đen chạy chéo, con mới có một vệt khói ngắn hơn, mờ hơn, chạy theo hướng ngược lại.

– Mấy cái chấm đỏ là mảnh chim cũ. – Ky nói. – Tao đập nhỏ, trộn vô.

Nó đưa con chim cho Mẫn Nghi. Mẫn Nghi cầm lấy, bằng hai tay, như cầm một con chim thật còn sống. Nó lật qua lật lại. Rồi nó đưa lên môi.

– Đừng. – Ky nói. – Còn nóng. Với lại, để tới chiều. Tới đồi cát.

Đồi cát Nam Cương nằm về phía nam thành phố, cách biển không xa. Chiều nào ở đó cũng có gió, cát bay thành từng dải mỏng như khói trên mặt đồi, những ngọn đồi đổi hình dáng theo mùa, theo năm. Năm lớp mười, chúng tôi đã định lên đây một lần, rồi không bao giờ đi, vì lúc nào cũng có một đứa bận. Ba năm, chưa một lần cả năm đứa cùng đứng trên đồi cát này.

Năm giờ rưỡi chiều, chúng tôi leo lên ngọn đồi cao nhất. Cát lún tới mắt cá, leo một bước tụt nửa bước. Chiếp leo trước, kéo Ky. Diệu Lý leo sau, đi chân trần, xách đôi dép trên tay. Tôi và Mẫn Nghi đi cuối. Có một đoạn dốc đứng, cát sụt, Mẫn Nghi trượt xuống. Tôi chìa tay. Nó nắm lấy, bước lên. Lần này nó không buông ra.

Trên đỉnh đồi, gió thổi mạnh tới mức phải nghiêng người mà đứng. Phía tây, mặt trời đang lặn sau dãy núi, đỏ như hòn than lấy ra khỏi bếp. Phía đông là biển, xanh thẫm. Phía bắc, xa xa, thấp thoáng những cây quạt gió trắng quay chậm trên những ngọn đồi. Phía nam là những đồi cát nối nhau, màu nghệ, màu cam, màu hồng, đổi màu từng phút theo ánh chiều.

Chúng tôi ngồi xuống thành một vòng tròn, lưng quay về phía gió.

Không ai nói gì một lúc lâu. Rồi Chiếp móc ra một cái bịch nylon, trong đó là năm ổ bánh mì chả cá, đã nguội.

– Tao bao. – Nó nói. – Như đã hứa với bà Lý.

Diệu Lý cười. Chúng tôi ăn bánh mì trên đỉnh đồi cát, cát bay vào bánh lạo xạo trong răng, không ai than.

Diệu Lý đậu Luật. Một trường trong Sài Gòn, ngành luật kinh tế. Tháng Chín nhập học. Thầy Kiệm sẽ chở nó vào bằng xe khách, ở lại ba ngày, tìm phòng trọ, mua đồ, rồi về. Diệu Lý nói ba nó đã in bản đồ khu vực quanh trường ra giấy, khoanh đỏ những chỗ cần biết: chợ, trạm y tế, đồn công an phường, nhà sách. Nó nói chuyện đó với giọng đọc thông báo, nhưng mắt thì cười.

Chiếp đậu cao đẳng nghề, ngành điện gió điện mặt trời, ở ngay trong tỉnh, cách vườn nho hai mươi cây số. Sáng đi học, chiều về coi vườn. Ông Tư Nho giờ đã đi lại được, tay trái cầm được kéo, chỉ là cắt chậm.

Ky vào Sài Gòn tháng Chín, theo học lớp gốm của ông thầy kia, đồng thời ôn thi để năm sau thi vào trường mỹ thuật. Bà Phấn sẽ ở lại Bàu Trúc với cô Út. Bà nói bà còn nặn được mười năm nữa, đợi được.

Mẫn Nghi đậu sư phạm Mầm non ở Phan Rang. Nó sẽ ở với bà Thơ, sáng đi học, chiều trông sạp nho.

Tôi đậu Kiến trúc.

Cái tin nhắn hôm đó, mười giờ đêm, tôi đã đọc đi đọc lại. Ba tôi cộng một con số ba lần. Sáng hôm sau, ba chạy một chuyến muối vào Sài Gòn. Lúc về, ông đem theo một cái hộp nhựa đựng mười hai cây chì vẽ từ 2H tới 8B, mua ở một tiệm nào đó gần trường thi. Ông để trên bàn ăn, không nói gì. Má nói ông đã đi hỏi ba tiệm mới mua được loại đó.

Mặt trời chạm đỉnh núi. Diệu Lý móc con chim xám trong cổ áo ra. Ky, Chiếp, tôi. Mẫn Nghi là người cuối cùng, con chim màu cam sẫm lốm đốm đỏ.

– Thổi cái gì? – Chiếp hỏi.

Không ai trả lời. Rồi Diệu Lý nói:

– Ba năm nay, mình có ba cái mật mã. Một tiếng dài, ra đây. Hai tiếng ngắn, có chuyện. Hai tiếng dài, tao vẫn ở đây.

– Rồi sao? – Chiếp hỏi.

– Thì cần một cái nữa. – Diệu Lý nói. – Cái cho lúc về.

Không ai nghĩ ra. Gió thổi cát quất vào lưng. Mặt trời đã lặn được một nửa sau núi.

Mẫn Nghi đưa con chim mới lên môi.

Nó thổi một tiếng dài. Rồi một tiếng ngắn. Rồi một tiếng dài.

Tiếng chim không giống con cũ. Con cũ kêu rè, hơi cao, như một đứa con gái Sài Gòn đọc từng chữ rõ ràng. Con mới trầm hơn một chút, tròn hơn một chút, có cái gì đó khàn khàn ở cuối, như tiếng của người ta lúc nói một câu mà nghẹn giữa chừng. Nó vang lên trên đỉnh đồi cát, bay theo gió về phía biển.

Mẫn Nghi hạ con chim xuống, nhìn nó, nhíu mày.

– Kêu khác. – Nó nói.

– Tao nói rồi. – Ky nói. – Không con nào giống con nào.

– Không phải. – Mẫn Nghi nói. – Ý tui là, nó kêu khác mà tui nghe ra nó vẫn là con chim của tui.

Rồi nó đưa lên môi, thổi lại. Dài, ngắn, dài.

Diệu Lý thổi theo. Rồi Chiếp. Rồi Ky. Rồi tôi. Dài, ngắn, dài. Năm tiếng chim khác giọng nhau, vang lên trên ngọn đồi cát cao nhất Nam Cương, lúc mặt trời đã chìm hẳn sau núi, chỉ còn một vệt đỏ trên đường chân trời.

Rồi gió lặng đi một chút. Và từ phía dưới chân đồi, ở đâu đó giữa những bụi xương rồng và cát, có một tiếng chim đáp lại.

Cao hơn, trong hơn, từ xa vọng tới.

Ky đứng bật dậy. Nó nhìn xuống chân đồi, nheo mắt trong ánh chiều tàn. Có một thằng con trai mười lăm, mười sáu tuổi đang lùa một đàn dê băng qua bãi cát, tay giơ lên vẫy, tay kia cầm một vật gì nhỏ xíu áp vào miệng.

– Thằng Bảy. – Ky nói. Rồi nó cười, cười như hôm ở vườn nho, tới ho sặc sụa. – Thằng Bảy! Nó đi lùa dê ngang đây!

Thằng Bảy thổi thêm một lần. Dài, ngắn, dài. Nó không biết mật mã mới. Nó chỉ thổi lại đúng những gì nó nghe, như một con chim nhại tiếng.

Chúng tôi ngồi trên đỉnh đồi tới khi trời tối hẳn. Không ai muốn về. Cuối cùng, Diệu Lý đứng dậy trước, phủi cát trên quần, nói ba nó đang đợi ở chân đồi. Chúng tôi nhìn xuống. Quả thật, ở bãi đất trống chỗ để xe, có một chiếc xe máy cũ đậu dưới cột đèn, và một người đàn ông đeo kính gọng đen đứng cạnh, đôi giày da đen lún trong cát.

Ông đứng đó không biết bao lâu rồi. Ông không gọi lên.

Chúng tôi xuống đồi. Lần này không ai leo, chỉ có trượt, cát lún tới đầu gối, tiếng cười la hét vang cả một góc trời. Diệu Lý trượt tới đâu thì ba nó nhìn theo tới đó.

Ở chân đồi, mỗi đứa một ngả. Thầy Kiệm chở Diệu Lý về thành phố. Chiếp chở Ky về Bàu Trúc. Tôi chở Mẫn Nghi về chợ bằng chiếc xe đạp điện của nó, tôi đạp, nó ngồi sau.

Tới đầu con hẻm sau chợ, bà Thơ đang ngồi dọn sạp. Thấy chúng tôi, bà đứng dậy, móc trong túi áo ra một phong bì, đưa cho Mẫn Nghi.

– Bưu điện mới đưa chiều nay. – Bà nói. – Gửi từ Sài Gòn.

Mẫn Nghi cầm phong bì, xé ra, dưới ánh đèn đường. Trong đó không có thư. Chỉ có một tấm ảnh in ra giấy bóng. Một đứa con nít mập ú ngồi trên cái ghế cao, miệng dính đầy cháo, trước mặt là một cái chén gốm màu đỏ gạch, miệng méo một bên.

Mặt sau tấm ảnh có một dòng chữ viết tay, ngắn. Mẫn Nghi đọc. Rồi nó lật tấm ảnh lại, nhìn mặt trước rất lâu.

Nó không đọc to dòng chữ đó. Tôi cũng không hỏi.

Nó cất tấm ảnh vào túi áo, cạnh con chim màu cam sẫm. Rồi nó quay sang tôi.

– Ông đi ngày nào?

– Mùng năm tháng Chín.

– Đi xe nào?

– Xe ba tui.

Nó gật đầu. Rồi nó móc con chim ra, áp vào môi, thổi một tiếng thật khẽ, khẽ tới mức chỉ người đứng sát bên mới nghe.

Dài, ngắn, dài.

Tôi không cần hỏi nghĩa. Ba năm trước, trong cái kho thể dục, nó nói không cần làm quen với ai vì Tết này nó đi. Tết đó nó không đi. Tết sau, Tết sau nữa, nó vẫn ở đây.

Bây giờ tới lượt tôi đi.

Tôi móc con chim đục giọng của mình ra, con chim kêu như chim sáo bị cảm, và thổi trả lời nó. Cũng thật khẽ.

— Hết —

Mục lục Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương

  1. 1Tiếng chim trong lễ khai giảng10 phút
  2. 2Tấm phông nền gặp gió11 phút đọc
  3. 3Bến xe năm giờ sáng hai mươi bảy Tết10 phút đọc
  4. 4Mẻ gốm nung giữa trời10 phút đọc
  5. 5Cái trại khoét ba lỗ10 phút đọc
  6. 6Mười một cái hộp dưới bàn thờ9 phút đọc
  7. 7Cánh cửa sắt màu xanh ở Gò Vấp10 phút đọc
  8. 8Tờ phiếu thi bỏ trắng9 phút đọc
  9. 9Chuyến xe muối vào Sài Gòn10 phút đọc
  10. 10Dài, ngắn, dài9 phút đọc

Về truyện này

Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →