Chương 3: Bến xe năm giờ sáng hai mươi bảy Tết
Bốn giờ năm mươi sáng hai mươi bảy Tết, bến xe Phan Rang chỉ có ba thứ thức: mấy ông xe ôm ngồi hút thuốc, một bà bán bánh căn vừa nhóm lò, và Mẫn Nghi.
Nó ngồi trên cái ghế sắt dài trước cửa phòng vé, mặc cái áo khoác jean quá khổ, hai tay nhét túi. Tôi tới thì nó đã ngồi đó không biết từ bao giờ. Tối hôm qua nó nhắn cho tôi đúng một dòng: "Mai ông chở tui ra bến xe sớm được không, tui không muốn ngoại dậy". Tôi phải dậy lúc ba giờ rưỡi, dắt xe ra khỏi sân thật nhẹ cho má khỏi thức, đạp mười hai cây số từ đồng muối lên.
– Xe mẹ bà mấy giờ tới?
– Năm giờ mười. Xe giường nằm, chạy từ Sài Gòn lúc mười giờ tối.
Nó nói giờ xe như đọc thuộc. Tôi ngồi xuống cạnh nó. Bà bán bánh căn bắt đầu đổ bột vào khuôn đất, tiếng xèo xèo, mùi bột gạo cháy cạnh thơm lừng giữa gió lạnh. Tháng Chạp ở Phan Rang gió bấc thổi khô rang, lạnh không tới mức phải mặc áo bông, nhưng đủ làm môi nứt.
– Ăn bánh căn không? – Tôi hỏi.
– Đợi mẹ tui tới rồi ăn. Mẹ tui mê bánh căn chấm cá kho.
Năm giờ mười, không có xe nào. Năm giờ hai lăm, một chiếc xe giường nằm màu trắng sọc xanh vào bến, cửa xì hơi mở. Mẫn Nghi đứng bật dậy. Từng người bước xuống: một ông già xách bao tải, hai vợ chồng bế con, một thằng thanh niên ôm cái loa kéo, ba bà đội nón lá về quê ăn Tết. Rồi tài xế bước xuống, châm thuốc.
Mẫn Nghi vẫn đứng.
– Chắc mẹ bà đi chuyến sau. – Tôi nói.
– Chuyến này là chuyến đó. – Nó nói. – Chiếc xe này. Biển số này.
Nó móc điện thoại ra, bấm gọi. Tôi nghe tiếng tút dài, rồi một giọng nữ tổng đài nói câu gì đó tôi không nghe rõ. Nó cúp máy. Bấm nhắn tin. Rồi ngồi xuống.
Sáu giờ, trời sáng hẳn. Bà bán bánh căn đã bán được hai chục khuôn, bắt đầu nhìn chúng tôi bằng con mắt thương hại. Tôi đi mua một dĩa. Mười cái bánh căn trứng, chén nước mắm có cá kho, ba mươi nghìn. Tôi để dĩa giữa hai đứa. Mẫn Nghi không ăn.
Sáu giờ mười lăm, điện thoại nó rung. Nó đọc. Tôi nhìn sang, chỉ thấy nó đọc xong rồi đọc lại.
– Mẹ tui kẹt hàng. – Nó nói, giọng bình thường như kể chuyện người khác. – Cuối năm công ty dồn đơn, mẹ không về kịp. Ra Giêng mẹ ra.
Rồi nó cầm đũa, gắp một cái bánh căn, chấm ngập nước cá kho, bỏ nguyên vào miệng. Nóng tới đỏ mắt. Nó ăn hết năm cái, không nói thêm câu nào.
Trên đường chở nó về nhà bà ngoại ở gần chợ, ngang qua bưu điện, nó vỗ vai tôi bảo dừng. Nó móc trong ba lô ra một cái hộp giấy đã gói kỹ, dán băng keo bốn bề.
– Tỏi với nho khô. – Nó nói. – Mẹ tui mê tỏi Phan Rang. Mẹ không ra được thì tui gửi vô.
Bưu điện chưa mở cửa. Nó đứng đợi ở bậc thềm. Tôi nói tôi phải về phụ má cào muối, nó gật đầu, không giữ.
Lúc tôi đạp đi một đoạn, ngoái lại, nó vẫn đứng đó, ôm cái hộp trước ngực, nhỏ xíu trước cánh cửa sắt kéo xuống.
Nhà tôi ở rìa đồng muối, về phía Tri Hải, một căn nhà cấp bốn mái tôn có cái sân xi măng rộng để phơi muối những ngày bãi đầy. Tháng Chạp là mùa muối đẹp nhất. Trời không mưa, gió bấc khô, nắng gắt mà không nóng. Ô ruộng nào cũng kết hạt trắng như đường cát, cào lên thành từng đống nhọn như những ngọn tháp nhỏ, hàng trăm hàng ngàn ngọn tháp xếp thẳng tắp tới tận chân núi. Lúc mặt trời lặn, cả cánh đồng ngả sang màu hồng.
Má tôi cào muối từ năm mười bốn tuổi. Hai bàn tay má trắng bệch, da nứt như mặt ruộng khô. Ba tôi lái xe tải chở muối, chạy vô Sài Gòn, lên Đà Lạt, lên Buôn Ma Thuột. Một tháng ba ở nhà chừng tám ngày. Ba ít nói. Ba nói nhiều nhất là khi ngồi tính dầu, tính phí cầu đường, tính tiền bốc xếp, nói một mình trong bếp như đọc kinh.
Ba không cấm tôi vẽ. Ba chỉ không nhìn. Có lần tôi vẽ cái xe tải của ba đậu dưới gốc bàng, vẽ kỹ tới từng con ốc trên vành bánh, để trên bàn ăn. Ba ăn cơm xong, dọn chén, kê cuốn tập vẽ dưới cái nồi canh cho khỏi nóng mặt bàn.
Mùng hai Tết, ba đứa kia tới nhà tôi. Tôi rủ cả bốn. Diệu Lý không tới.
Chiếp chở Ky trên chiếc xe máy cà tàng của ông Tư Nho, ống bô nổ bành bạch cả cây số. Mẫn Nghi đi xe đạp điện, tự tìm đường bằng điện thoại, lạc hai lần, tới nơi thì mặt đỏ như gấc. Má tôi lì xì mỗi đứa một bao đỏ có tờ hai chục nghìn, đứa nào cũng cầm hai tay. Ba tôi đang ngồi lau xe ngoài sân, gật đầu chào, rồi lau tiếp.
Chúng tôi đi bộ ra đồng muối. Ky chưa bao giờ đứng giữa một cánh đồng muối. Nó ngồi xổm xuống, bốc một nắm muối hạt lên, để trong lòng bàn tay, nhìn như nhìn đất sét.
– Muối này nung gốm được không mày? – Nó hỏi.
– Nung cái gì?
– Bà tao nói hồi xưa có người rải muối vô lò cho gốm láng mặt. Bàu Trúc không làm. Bà nói người Chăm nung gốm trần, không men, không muối, đất sao để vậy.
Chiếp thì leo lên bờ ruộng cao nhất, giang hai tay ra đón gió như con diều. Nó hét một câu gì đó với núi. Gió thổi ngược, câu nói bay ngược vô mặt nó. Nó cười sằng sặc.
Mẫn Nghi đi sau cùng. Nó đi rất chậm trên bờ ruộng hẹp, hai tay dang ngang giữ thăng bằng. Tới một chỗ bờ sạt, nó ngập ngừng. Tôi quay lại, chìa tay. Nó nhìn bàn tay tôi một giây, rồi nắm lấy, bước qua. Bàn tay nó lạnh. Qua khỏi chỗ sạt, nó buông ra ngay, nhưng đi tiếp sát sau lưng tôi, gần tới mức tôi nghe được tiếng nó thở.
– Ở Sài Gòn không có cái này. – Nó nói khi chúng tôi đứng giữa những ngọn tháp muối trắng hồng lúc chiều xuống. – Ở Sài Gòn tui chưa từng thấy chỗ nào rộng như vầy mà không có ai.
– Bà nhớ Sài Gòn không?
Nó nghĩ một lúc lâu.
– Tui nhớ mẹ tui. – Nó nói. – Sài Gòn thì không.
Lúc về tới sân, ba tôi đã lau xe xong. Ông đang ngồi trên bậc thềm, trước mặt là cuốn tập vẽ của tôi mở ra. Tôi bỏ quên nó trên bàn sáng nay. Trang ông đang mở là trang tôi vẽ cái xe tải dưới gốc bàng.
Ba đứa kia đứng sững ở cổng. Tôi bước tới. Ba ngẩng lên.
– Mày vẽ cái gương chiếu hậu bên trái thiếu một con ốc. – Ba nói. – Xe tao bên trái có ba con, bên phải hai con. Bên trái bị gãy hồi năm mười chín, tao bắt thêm một con.
Rồi ba gập cuốn tập lại, đưa cho tôi, đứng dậy đi vô nhà.
Chiếp huýt sáo khe khẽ. Mẫn Nghi nhìn tôi. Tôi không biết phải làm mặt gì, nên cúi xuống, mở lại trang đó, nhìn cái gương chiếu hậu bên trái. Ba nói đúng.
Tối mùng hai, chúng tôi chở nhau lên thành phố coi người ta chơi Tết ở công viên ven sông Dinh. Chiếp chở Ky, tôi chở Mẫn Nghi trên xe đạp điện của nó, tôi đạp, nó ngồi sau. Đi ngang qua dãy nhà phố gần trường, Ky bảo dừng.
Nhà thầy Kiệm là căn nhà ba tầng sơn màu kem, ban công tầng hai có một giàn hoa giấy trắng. Đèn tầng hai sáng. Cửa sổ mở.
– Thổi đi. – Chiếp nói.
– Ổng nghe thì sao. – Tôi nói.
– Thì ổng nghe. Mùng hai Tết mà, ổng đánh ai được.
Ky móc con chim đất ra, áp vào môi. Một tiếng dài. Ra đây.
Không có gì xảy ra. Đèn vẫn sáng. Cửa sổ vẫn mở. Một chiếc xe máy chạy ngang, người ngồi sau ngoái lại nhìn bốn đứa đứng ngẩn trước nhà người ta.
Mẫn Nghi rút con chim của nó ra, thổi một tiếng dài. Rồi Chiếp. Rồi tôi. Bốn tiếng chim khác giọng nhau, vang lên giữa con đường vắng, như bốn con chim khác loài gọi bầy.
Bóng một người hiện lên sau cửa sổ tầng hai. Không phải Diệu Lý. Một người đàn ông. Ông đứng đó, nhìn xuống. Chúng tôi đông cứng.
Rồi bóng ông lùi vào. Và một lúc sau, từ cái ban công có giàn hoa giấy trắng, một tiếng chim đất vang lên, cao và trong nhất trong năm con.
Hai tiếng dài.
Tao vẫn ở đây.
Chiếp vỗ đùi đánh đét một cái, cười phá lên, rồi bịt miệng lại. Ky không cười, nhưng tôi thấy vai nó hạ xuống, như vừa đặt xuống một gánh nặng.
Ra Giêng, mẹ của Mẫn Nghi không ra.
Tháng Hai, Mẫn Nghi nói mẹ nó bị điều đi làm ở một chi nhánh khác, chưa xin nghỉ được. Tháng Ba, nó nói mẹ nó đang dọn nhà. Mỗi lần nói, nó đều nói bằng cái giọng bình thường ấy, như đọc tin thời tiết. Mỗi tháng nó đều ghé bưu điện, gửi đi một cái hộp. Có tháng tôi chở nó đi. Lúc thì tỏi, lúc thì nho khô, lúc thì một bịch bánh tráng mè, có lần là một cái áo len nó tự đan, xấu như cái lưới cá.
Diệu Lý thì lên ngồi bàn đầu, cạnh bạn Thảo, đúng như lời ba nó. Trong lớp nó không nhìn xuống cuối dãy. Ra chơi nó ở lại trong lớp làm bài. Nhưng tối nào đi ngang nhà nó mà thổi một tiếng dài, thì từ ban công giàn hoa giấy, sớm hay muộn, cũng vọng xuống hai tiếng dài.
Cuối tháng Tư, trường dán danh sách kỳ thi xét vào lớp chọn năm lớp mười một. Tên Diệu Lý đứng đầu, điểm Toán mười.
Đêm đó, tôi đạp xe lên thành phố một mình, đứng trước nhà thầy Kiệm thổi một tiếng dài. Đèn tầng hai tắt.
Tôi đợi tới mười giờ. Ban công vẫn tối.
Lúc về ngang chợ, tôi thấy bà ngoại Mẫn Nghi đang ngồi dọn sạp nho trước cửa nhà. Bà thấy tôi, vẫy lại, dúi vào tay một chùm nho đỏ.
– Con là thằng Sênh hả? Con chở con Nghi đi bưu điện hoài, ngoại biết. – Bà nhìn quanh, rồi hạ giọng. – Con nói với nó giùm ngoại. Đừng gửi nữa. Tốn tiền.
– Sao vậy ngoại?
Bà nhìn tôi rất lâu, đôi mắt già đục như nước giếng.
– Thôi. – Bà nói. – Con về đi, khuya rồi.
— Hết chương 3 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe