AI Truyện
Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương

🎒 Thanh xuân vườn trường

Cái trại khoét ba lỗ

Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương · Chương 5/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 10 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 5: Cái trại khoét ba lỗ

Ba tuần sau Tết, cái bàn cuối dãy cửa sổ lớp 11A6 vẫn trống.

Cô Nguyệt đọc tên Chiếp mỗi sáng, rồi tự đánh dấu vắng, không hỏi ai. Đến tuần thứ tư, cô gọi tôi lên bàn giáo viên, đưa cho tôi một tờ giấy gấp tư.

– Giấy mời phụ huynh. – Cô nói. – Em đưa cho ông bạn. Nghỉ quá bốn mươi lăm buổi là thôi học, cô không cứu được.

Chiếp đã nghỉ hai mươi mốt buổi.

Chiều thứ Bảy, tôi, Ky và Mẫn Nghi ra vườn nho. Ông Tư Nho ngồi trên cái ghế bố kê dưới giàn đầu tiên, tay trái đặt trên đùi, ngón tay co quắp lại như móng gà. Ông thấy chúng tôi thì cười, miệng méo đi một bên, nói một câu gì đó mà phải mất ba lần tôi mới hiểu là "tụi bây ăn nho".

Chiếp ở cuối vườn, đang cắt tỉa. Lứa nho Tết đã bán xong, giờ là lúc cắt cành để nuôi lứa mới. Nó cầm cái kéo lớn, cắt từng nhát dứt khoát, cành rơi lả tả quanh chân. Thấy chúng tôi, nó không dừng tay.

– Đừng đưa giấy. – Nó nói trước khi tôi kịp mở miệng. – Tao biết rồi.

– Cô Nguyệt nói còn hai mươi bốn buổi.

– Tao biết đếm.

Chúng tôi không nói gì nữa. Ky cầm một cái kéo khác, đi xuống luống bên cạnh, bắt đầu cắt. Tôi không biết cắt nho, nên cúi lượm cành. Mẫn Nghi ngồi với ông Tư Nho, nghe ông nói chuyện. Tôi không biết nó hiểu được bao nhiêu chữ, nhưng nó gật đầu suốt.

Chiều đó và ba chiều thứ Bảy tiếp theo, chúng tôi làm như vậy. Không ai nhắc tới trường. Chiếp cũng không đuổi.

Tuần cuối tháng Ba, trường tổ chức hội trại hai mươi sáu tháng Ba. Mỗi lớp một khu đất trên sân, dựng trại từ trưa hai mươi lăm, cắm qua đêm, sáng hai mươi sáu chấm điểm. Lớp tôi bốc thăm được khu đất ở góc sân phía tây, ngay sát kho thể dục, chỗ mà một năm rưỡi trước năm đứa tôi bị nhốt.

Lớp 11A1 được khu đất giữa sân, ngay trước sân khấu.

Trại 11A1 là cái trại đẹp nhất mà tôi từng thấy ở trường này. Phụ huynh thuê người dựng khung sắt, căng bạt hai lớp, cổng trại cao bốn mét kết bằng hoa giấy và đèn nháy. Trong trại có thảm, có quạt, có cả một cái bàn gỗ trưng mô hình tháp Chàm làm bằng xốp. Diệu Lý đứng ở cổng, cầm danh sách phân công, chỉ đạo ba chục đứa bạn như một vị tướng.

Trại lớp tôi thì dựng bằng tre và tấm bạt xanh mượn của nhà một đứa làm nghề bán rau. Tôi vẽ cổng trại lên tấm ván ép. Ky và mấy đứa con trai đào lỗ chôn cột. Mẫn Nghi lo phần trang trí bên trong, treo những chùm vỏ ốc lượm ở biển Ninh Chữ.

Bốn giờ chiều hai mươi lăm, có tiếng xe máy nổ bành bạch ngoài cổng trường.

Chiếp bước vào, xách theo một cuộn dây thừng to và một bó cọc tre vót nhọn. Nó không đi về phía lớp tôi. Nó đi thẳng tới khu trại 11A1, đứng trước cái cổng hoa giấy bốn mét, ngước mắt nhìn. Rồi nó đi một vòng quanh cái trại, chậm rãi, có lúc dừng lại, liếm ngón tay, giơ lên trời.

Diệu Lý đứng ở cổng, nhìn nó.

– Ông làm gì vậy?

– Cổng bà quay ra hướng bắc. – Chiếp nói. – Bạt căng hai lớp, kín mít, không có chỗ thoát gió. Khung sắt cắm xuống sân xi măng, chỉ có đế, không có cọc.

– Thì sao?

– Đêm nay gió đổi.

Diệu Lý nhìn lên trời. Trời trong veo, không một gợn mây, gió nồm từ biển thổi vào đều đặn, mát rượi, đúng kiểu gió của tháng Ba.

– Dự báo không có gió lớn.

– Dự báo không trồng nho. – Chiếp nói. – Ông tao nói tháng Ba hay có một đêm gió núi đổ xuống. Mấy cành non hướng bắc bữa nay cụp hết lá rồi.

Mấy đứa 11A1 đứng gần đó cười ồ. Có đứa nói gì đó về "thằng nông dân học lại". Diệu Lý không cười. Nó nhìn Chiếp thêm một giây, rồi quay đi, hét lên với ai đó về chuyện đèn nháy chưa sáng.

Chiếp quay về khu trại lớp tôi. Nó không chào ai, không giải thích ba tuần bỏ học. Nó chỉ nói:

– Nhổ cột lên. Chôn lại sâu gấp đôi. Mỗi cột ba sợi dây néo, đóng cọc xéo bốn mươi lăm độ. Bạt sau lưng khoét ba lỗ.

– Khoét lỗ cho mưa vô hả? – Một đứa lớp tôi hỏi.

– Phan Rang tháng Ba không mưa. Khoét cho gió đi qua.

Không ai cãi. Một đứa đã bỏ học ba tuần, bước vào trại, ra lệnh như đội trưởng, mà không ai cãi. Tôi nghĩ đó là vì cái cách nó liếm ngón tay giơ lên trời. Người nào làm được động tác đó mà không trông ngớ ngẩn, thì người đó biết mình đang nói gì.

Đêm hội trại có lửa trại, có văn nghệ, có trò chơi dân gian. Mười một giờ, thầy cô cho các lớp về trại ngủ. Thầy Kiệm trực đêm, ngồi ở bàn giám thị kê dưới mái hiên nhà A, đèn pin để sẵn trên bàn.

Một giờ mười lăm sáng, tôi tỉnh dậy vì tiếng bạt đập phần phật.

Gió tới không có báo trước. Không có tiếng gầm, không có mưa. Chỉ có những cơn giật từ phía núi tràn xuống, đều như ai cầm cái quạt khổng lồ đứng trên đồi phẩy vào trường. Trại lớp tôi rung lên. Tre kêu kẽo kẹt. Những sợi dây néo căng như dây đàn. Nhưng nó đứng. Gió lọt vào qua ba cái lỗ sau lưng, xuyên qua trại, thoát ra phía cổng, như nước chảy qua một cái ống.

Rồi có tiếng la từ giữa sân.

Chúng tôi chạy ra. Dưới ánh đèn đường, cái cổng hoa giấy bốn mét của 11A1 đang nghiêng. Nó nghiêng từ từ, như người say, rồi đổ sập xuống sân xi măng, kéo theo một mảng bạt. Đèn nháy tắt phụt. Cái trại hai lớp bạt kín mít phồng lên như một trái bóng, khung sắt bên trong kêu ken két, rồi một chân đế bị nhấc bổng khỏi mặt sân. Tiếng con gái la hét. Mấy đứa con trai lớp 11A1 nhào ra ôm khung sắt, bị gió đẩy lảo đảo.

Chiếp là người chạy tới đầu tiên. Ky sau nó. Rồi tôi. Rồi cả lớp tôi.

– Cắt dây bạt phía sau! – Chiếp gầm lên. – Cắt cho gió thoát!

Không ai có dao. Chiếp móc trong túi quần ra cái kéo cắt cành của ông Tư Nho, cái kéo mà nó chưa bao giờ rời người, rạch một đường dài trên lớp bạt sau. Gió ào qua lỗ rách. Cái trại xẹp xuống như trái bóng xì hơi. Khung sắt đứng lại.

Thầy Kiệm chạy tới, đèn pin rọi khắp. Mấy đứa con gái 11A1 đứng co ro giữa sân, có đứa khóc. Thảm ướt sũng vì thùng nước đá đổ. Cái mô hình tháp Chàm bằng xốp đã bay đi đâu mất.

– Qua trại lớp em, – Mẫn Nghi nói với đám con gái, – trại tụi em còn đứng.

Đêm đó, trại lớp 11A6 vốn chỉ đủ chỗ cho ba mươi tám đứa, chứa gần sáu mươi. Chúng tôi ngồi chen chúc, vai kề vai, nghe gió đập bạt tới gần sáng. Có ai đó mở điện thoại bật nhạc, có ai đó kể chuyện ma, có ai đó ngủ gục lên vai đứa bên cạnh không quen.

Diệu Lý ngồi trong góc, cạnh Mẫn Nghi. Đối diện với tôi, Ky và Chiếp.

Lúc gió bắt đầu dịu, khoảng bốn giờ sáng, Diệu Lý nói, nhỏ thôi, không nhìn ai:

– Lớp chọn chán lắm.

Không ai đáp. Chúng tôi chờ.

– Đứa nào cũng giỏi. Đứa nào cũng học thêm ba chỗ. Kiểm tra mười lăm phút xong là cả lớp so điểm, đứa nào thấp thì cả buổi không ai nói chuyện với nó. Tui đứng đầu học kỳ một. – Nó ngừng. – Không có ai ngồi ăn bánh mì với tui ở căng tin.

– Thì xuống căng tin dưới. – Chiếp nói. – Bánh mì chả cá. Tao bao.

– Ông nghỉ học rồi mà bao ai.

Chiếp cười. Lần đầu tiên từ sau Tết tôi thấy nó cười.

– Thì tao đi học lại.

– Ông nghỉ hai mươi mốt buổi.

– Hai mươi bốn. – Chiếp sửa. – Nhưng còn hai mươi mốt buổi nữa mới bị đuổi. Tao biết đếm.

– Ông học không theo kịp đâu. Ba tuần là hết hai chương Hàm số.

– Thì bà kèm.

Diệu Lý quay sang nhìn nó, lâu. Rồi nó móc trong cổ áo ra một sợi dây. Ở đầu sợi dây là con chim đất có màu xám nhạt, trong nhất, cao nhất trong năm con. Nó không thổi. Nó chỉ để con chim nằm trong lòng bàn tay, giơ ra giữa vòng tròn của năm đứa.

Ky móc con của nó ra. Rồi Chiếp. Rồi tôi. Mẫn Nghi là người cuối cùng, con chim đỏ gạch có vệt khói đen chạy chéo.

Năm con chim nằm cạnh nhau trên năm bàn tay, dưới ánh đèn pin của ai đó, trong một cái trại tre lộng gió.

Lúc trời sáng, thầy Kiệm đi kiểm tra từng trại. Tới trại lớp tôi, ông vén cửa bạt nhìn vào. Ông thấy Diệu Lý ngồi đó, giữa bốn đứa mà ông đã bắt nó tránh xa từ hơn một năm trước. Tôi nín thở.

Ông nhìn khắp trại, nhìn ba cái lỗ khoét sau lưng, nhìn những sợi dây néo đóng cọc xéo. Rồi ông nhìn Chiếp.

– Em dựng hả?

– Dạ.

Ông gật đầu. Rồi ông buông cửa bạt xuống, đi sang trại kế bên. Không nói thêm câu nào.

Trại lớp tôi được giải Nhất hội trại năm đó. Ban giám khảo không ghi lý do. Nhưng ai cũng biết.

Tuần sau, Chiếp đi học lại. Diệu Lý kèm nó Toán mỗi chiều thứ Ba và thứ Năm ở căng tin, giữa giờ tan học và giờ học thêm. Thầy Kiệm biết. Ông không nói gì.

Mẫn Nghi thì bị cảm sau đêm hội trại, nằm nhà ba ngày. Thứ Sáu, nó nhắn cho tôi: "Ông gửi giùm tui cái hộp được không. Tui để ở chỗ ngoại, ông ghé lấy. Gửi trước Chủ nhật, tuần sau là sinh nhật mẹ tui."

Tôi ghé lấy. Hộp nhỏ, nhẹ hơn mọi lần. Lắc thử thì có tiếng lạch cạch như đồ gốm. Địa chỉ trên hộp tôi đã thuộc lòng: một con hẻm số lẻ ở Gò Vấp.

Cô nhân viên bưu điện cân hộp, nhập địa chỉ vào máy. Rồi cô ngừng tay, nhìn màn hình, cau mày, nhìn lại cái hộp, nhìn tôi.

– Em ơi. Địa chỉ này, mấy lần trước bị trả về rồi đó em.

– Dạ?

– Người nhận không còn ở địa chỉ này. Lần nào cũng trả về. – Cô bấm bấm. – Mười một lần rồi. Lần nào cũng trả về nhà bà Thơ gần chợ.

Bà Thơ là bà ngoại Mẫn Nghi.

— Hết chương 5 —

Mục lục Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương

  1. 1Tiếng chim trong lễ khai giảng10 phút
  2. 2Tấm phông nền gặp gió11 phút đọc
  3. 3Bến xe năm giờ sáng hai mươi bảy Tết10 phút đọc
  4. 4Mẻ gốm nung giữa trời10 phút đọc
  5. 5Cái trại khoét ba lỗ10 phút đọc
  6. 6Mười một cái hộp dưới bàn thờ9 phút đọc
  7. 7Cánh cửa sắt màu xanh ở Gò Vấp10 phút đọc
  8. 8Tờ phiếu thi bỏ trắng9 phút đọc
  9. 9Chuyến xe muối vào Sài Gòn10 phút đọc
  10. 10Dài, ngắn, dài9 phút đọc

Về truyện này

Năm con chim đất trên đồi cát Nam Cương là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →