Chương 5: Mi Lan – Hai chuyện trong cùng một đêm
Sáu mươi tám triệu. Tôi biết con số đó trước cả Huấn và Chăn Đa, vì tôi là người hỏi thẳng.
Đó là một tuần sau cái tối Siêm đứng ở hiên phòng số hai, mặt trắng bệch, cầm điện thoại. Tôi chặn nó ở bến lúc năm giờ năm mươi sáng, khi nó vừa đi chợ cá về, người còn tanh mùi nước đá.
– Bao nhiêu?
Nó nhìn tôi, như cân nhắc có nên nói dối không. Rồi nó nói, vì Siêm không biết nói dối, nó chỉ biết im.
– Mổ hết một trăm mười. Bảo hiểm trả một phần. Nhà còn thiếu sáu mươi tám.
– Nhà ông có bao nhiêu?
– Mười hai. Bác tau cho mượn mười lăm.
Tôi tính. Tôi học Kinh tế, tôi tính nhanh. Còn thiếu bốn mươi mốt triệu. Một đêm vác cá một trăm hai chục ngàn. Ba trăm bốn mươi hai đêm.
– Bác sĩ hẹn mổ khi nào?
– Sau Tết. Tháng Ba. Chậm nữa thì...
Nó không nói hết. Nó bước lên bậc tam cấp, đi vào phòng, đóng cửa.
Tôi có tiền. Tôi nói câu đó không phải để khoe. Tôi nói vì đó là sự thật mà suốt hai năm ở dãy trọ, tôi cố làm như không phải. Ba tôi gửi tiền vào tài khoản mỗi tháng, đều đặn, dù tôi không xin, dù tôi ở dãy trọ bảy trăm ngàn chứ không ở căn hộ ông mua. Tôi không xài. Tôi để đó, như để một thứ gì đó tôi không muốn nhìn. Tới tháng Một năm 2016, trong tài khoản có ba mươi bốn triệu.
Tôi rút hai mươi triệu, bỏ vào một cái phong bì.
Siêm về quê ăn Tết năm đó. Lần đầu tiên trong hai năm. Nó đi xe đò ba mươi tiếng, ở với mẹ trong bệnh viện ở Vinh suốt mười ngày, rồi đi xe đò ba mươi tiếng quay lại. Khi nó bước vào hẻm, tôi không nhận ra nó. Nó ốm tới mức cái áo sơ mi trắng ủi thẳng thớm treo trên người như treo trên cây móc. Hai má hóp lại. Mắt trũng.
Từ sau Tết, Siêm làm hai chỗ. Hai giờ sáng tới năm giờ rưỡi vác cá. Sáu giờ chiều tới mười một giờ đêm bưng bê ở một quán nhậu ven sông, mỗi tối một trăm ngàn cộng tiền khách bo. Giữa hai chỗ đó là trường. Nó ngủ ba tiếng một đêm. Có hôm tôi thấy nó ngủ gục ngay trên xuồng, giữa rạch, tay còn cầm cần lái máy đuôi tôm, Huấn phải với tay tắt máy cho chiếc xuồng khỏi đâm vô bờ.
Nó bắt đầu nghỉ học. Lúc đầu một buổi. Rồi hai buổi.
Có một tối tôi tới cái quán nhậu ven sông đó. Tôi không vào. Tôi đứng bên kia đường, dưới gốc me, nhìn qua. Quán đông, khói nướng mù mịt, tiếng cụng ly rổn rảng. Siêm mặc cái áo thun đen của quán, bưng một mâm lẩu mắm lên một bàn sáu ông đàn ông đã say. Một ông níu tay nó lại, hỏi gì đó. Nó trả lời. Ông kia cười ha hả, nhại lại, cả bàn cười theo, có ông đập bàn.
Siêm cũng cười. Rồi nó nói thêm một câu nữa, lần này tôi đứng xa mà vẫn nghe ra: nó nói giọng miền Tây, "dạ, mấy anh dùng thêm gì hông", giọng miền Tây trơn tru như người sinh ra ở đây. Bàn đó thôi cười. Nó bưng cái mâm không đi vào trong.
Tôi đứng dưới gốc me thêm một lúc, rồi về. Tôi không kể với ai chuyện đó.
Huấn chép bài giùm nó các môn đại cương học chung. Chăn Đa thì làm một chuyện mà tôi không ngờ: nó đi hỏi bạn lớp Thủy sản của Siêm, mượn tập, chép lại từng trang bằng nét chữ tròn trịa cẩn thận, kẹp vào một bìa hồ sơ, để trên bậc cửa phòng số hai mỗi sáng thứ Hai.
Còn tôi thì đưa cái phong bì.
Tôi đưa vào một tối đầu tháng Ba, lúc mười một giờ rưỡi, khi nó đi làm quán nhậu về, ngồi trên bậc tam cấp cởi giày. Tôi ngồi xuống cạnh nó, đặt cái phong bì lên đầu gối nó.
– Hai chục. – Tôi nói. – Không phải cho. Cho mượn. Không tính lời. Khi nào trả cũng được, mười năm nữa trả cũng được.
Siêm nhìn cái phong bì. Nó không mở.
– Tiền của mi?
– Tiền của tôi.
– Tiền của ba mi.
Tôi không trả lời. Siêm cầm cái phong bì lên, đặt lại vào tay tôi. Nhẹ nhàng, như trả lại một món đồ mượn.
– Tau không lấy.
– Tại sao? Mẹ ông cần mổ. Ông cần tiền. Tôi có tiền. Tôi không hiểu ông tính cái gì.
– Mi không hiểu. – Siêm nói. Giọng nó không lớn, nhưng có một cái gì đó gắt, như cái lần nó nói "chia bốn". – Mi đưa tau hai chục. Rứa là từ ni về sau, lúc mô mi nhìn tau, mi cũng thấy hai chục. Lúc tau ngồi trên xuồng, mi thấy hai chục ngồi trên xuồng. Lúc tau nói chi với mi, mi nghe hai chục nói.
– Tôi không như vậy.
– Mi không muốn như rứa. – Nó nói. – Nhưng mi sẽ như rứa. Tau cũng rứa. Tau nhìn mi, tau thấy hai chục. – Nó đứng dậy, cầm đôi giày. – Tau không phải chỗ để mi làm phước.
Nó đi vào phòng. Tôi ngồi lại trên bậc tam cấp, cầm cái phong bì, tới khi muỗi cắn sưng chân.
Tôi không giận. Tôi nói thật, tôi muốn giận mà không giận được. Vì tôi biết nó đúng. Ba tôi đã nhìn tôi suốt hai mươi năm như nhìn một khoản đầu tư. Tôi biết cảm giác bị nhìn như vậy.
Tháng Ba, mẹ Siêm không mổ. Bệnh viện dời lịch vì thiếu tiền tạm ứng. Tháng Tư, cũng không. Tháng Năm, Siêm nói với Huấn là bác sĩ nói không được dời nữa.
Cũng tháng Năm, có một buổi chiều, tôi ngồi trên xuồng với Huấn, Siêm thì đang ngồi trên bậc tam cấp chép bài từ cái bìa hồ sơ của Chăn Đa. Huấn đang lau cái máy đuôi tôm, khoe với tôi là từ hồi sửa tới giờ nó chưa tắt máy giữa đường lần nào. Siêm ngẩng lên, hỏi một câu, giọng bình thường như hỏi giờ:
– Máy ni giờ bán được bao nhiêu?
– Bán làm chi? – Huấn nói.
– Tau hỏi rứa thôi.
– Cỡ hai triệu. – Huấn nói, vẫn cúi lau máy. – Xuồng với máy chung chắc năm, sáu triệu. Xuồng ông Tám đóng, gỗ sao, dân ghe biết là trả giá cao.
Siêm gật đầu, cúi xuống chép bài tiếp.
Tôi nhớ câu hỏi đó. Tôi đã nhớ nó suốt mấy tháng sau. Lúc đó tôi không nghĩ gì. Lúc đó tôi đang nghĩ về chuyện khác: về cái bảng điểm học kỳ hai của tôi, ba phẩy sáu, cao nhất từ khi tôi vào trường, và về việc tôi đã ngồi dự thính lớp Nuôi trồng thủy sản của Siêm bốn buổi trong tháng Tư, ngồi hàng cuối, không ai biết, trừ Chăn Đa.
Tôi không biết tại sao tôi đi dự thính. Lần đầu, tôi chỉ đi theo để coi Siêm có đi học không. Siêm không đi. Nhưng ông thầy đang giảng về ao nuôi tôm, về độ mặn, về oxy hòa tan, về chuyện con tôm chết hàng loạt chỉ vì một đêm mưa trái mùa làm nước ngọt tràn vào ao. Ông giảng mà như kể chuyện. Tôi ngồi tới hết giờ. Tuần sau tôi đi nữa.
Ở nhà máy xay lúa của ba tôi trên Thốt Nốt, người ta nói về giá lúa, giá gạo, giá vận chuyển. Không ai nói về những thứ sống.
Mùa thi năm hai bắt đầu giữa tháng Sáu. Siêm đi thi đủ. Tôi biết vì Chăn Đa đi hỏi lớp nó. Nó ngồi phòng thi, làm bài, nộp bài, đi về, không nói chuyện với ai, rồi buổi chiều đi làm quán nhậu như thường.
Môn thi cuối cùng của Siêm là thứ Sáu, mười bảy tháng Sáu.
Tối thứ Sáu đó, tôi về nhà ở thành phố, vì ba tôi gọi, nói có khách quan trọng từ Sài Gòn xuống, con gái phải có mặt. Tôi ngồi trong một nhà hàng sang trọng, mặc cái đầm ba tôi mua, nghe ba tôi giới thiệu tôi với một ông chủ vựa lúa lớn: con gái tôi, năm sau ra trường, về phụ tôi điều hành nhà máy. Tôi cười, gật đầu, không nói gì. Mười giờ tối, tôi xin về sớm, nói đau đầu.
Tôi chạy xe về dãy trọ lúc mười một giờ. Đèn phòng số hai tối. Siêm chắc còn ở quán nhậu.
Tôi ngủ.
Sáng thứ Bảy, sáu giờ, tôi bị đánh thức bởi tiếng Huấn la ngoài bến.
Tôi chạy ra, còn mặc nguyên cái áo ngủ. Huấn đứng ở bậc tam cấp, tay cầm sợi xích. Sợi xích vẫn còn quấn quanh cái cọc. Ổ khóa mở, treo lủng lẳng. Ở đầu kia sợi xích, không có gì.
Chiếc xuồng không có ở bến.
– Bị ăn trộm. – Huấn nói. Giọng nó run. – Tụi nó mở khóa. Chìa khóa...
Nó quay lại nhìn cây đinh trên cột hiên phòng số một. Cây đinh trống trơn.
Chăn Đa từ phòng số chín bước ra, tóc chưa chải, kính chưa đeo, nheo mắt nhìn ra bến. Rồi nó quay đầu, nhìn sang cửa phòng số hai.
Cửa phòng số hai đóng. Tôi bước tới, gõ. Không ai trả lời. Tôi gõ mạnh hơn. Tôi gọi tên Siêm. Không ai trả lời.
Huấn chạy tới, xoay nắm cửa. Cửa không khóa.
Phòng số hai trống trơn. Không phải trống như người ta đi vắng. Trống như chưa từng có ai ở. Cái giường sắt chỉ còn tấm chiếu cói cuộn tròn để ở góc. Cái bàn học không còn gì. Cái móc treo trên tường không còn cái áo sơ mi trắng nào. Cái thùng nhựa đựng gạo cũng không còn. Chỉ có mùi, cái mùi nước đá và mùi cá, còn vương lại trong không khí như một người không chịu đi.
Tôi rút điện thoại, gọi cho Siêm. Một giọng nữ tổng đài trả lời: thuê bao quý khách vừa gọi tạm thời không liên lạc được.
Tôi gọi lại. Lại giọng nữ tổng đài. Tôi gọi lần thứ ba. Huấn nắm cổ tay tôi, kéo xuống.
Chúng tôi đứng giữa căn phòng trống, ba đứa, không ai nói gì. Ngoài kia, con nước ròng đang rút, mặt rạch Bằng Lăng trơ ra một dải bùn non lấp lánh dưới nắng sớm. Ở chỗ chiếc xuồng thường nằm, bùn in một vệt lõm dài bốn thước, cong cong như cái lá.
Hai chuyện xảy ra trong cùng một đêm. Chiếc xuồng biến mất. Siêm biến mất.
Tôi học Kinh tế. Tôi biết hai cộng hai bằng mấy. Nhưng sáng hôm đó, đứng trong căn phòng số hai, tôi không muốn cộng.
— Hết chương 5 —

🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe