AI Truyện
Miếng thiếc hình con cá dưới đáy xuồng

🎒 Thanh xuân vườn trường

Chăn Đa – Chữ liều giữa sông Hậu

Miếng thiếc hình con cá dưới đáy xuồng · Chương 3/10 · Sáng tác: AI Truyện

📖 11 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Chăn Đa – Chữ liều giữa sông Hậu

Trong tiếng Việt có một chữ mà tôi mất gần một năm mới hiểu: chữ "liều".

Từ điển ghi: liều là làm một việc mà biết có thể nguy hiểm hoặc không có kết quả, nhưng vẫn làm. Tôi chép định nghĩa đó vào sổ tay từ vựng hồi năm lớp mười, cạnh chữ Khmer gần nghĩa nhất mà tôi nghĩ ra được. Tôi tưởng mình hiểu. Tôi không hiểu, cho tới đêm hai mươi lăm tháng Ba năm 2015, khi tôi đứng trên mé cồn cầm cây đèn pin, soi theo một cái đầu người đang bơi ra giữa sông Hậu lúc mười một giờ đêm.

Nhưng tôi nên kể từ đầu.

Tết năm đó, tôi về Vĩnh Châu. Huấn về Bến Tre. Mi Lan nói nó về nhà ở thành phố, nhưng tôi biết nó ở lại dãy trọ hai ngày đầu, vì Huấn nhắn tin kể. Siêm thì không về. Vé xe ra Nghệ An ngày Tết đắt gấp đôi ngày thường, mà một vé bằng mười ba đêm vác cá. Huấn rủ nó về Bến Tre ăn Tết. Nó từ chối. Huấn kéo nó lên xe đò bằng cách xách luôn cái ba lô của nó bỏ lên trước.

Ở nhà tôi, mùa hành tím vừa bắt đầu. Nhà tôi có hai công đất, trồng hành từ đời ông nội. Tháng Chạp tới tháng Giêng là mùa nhổ. Sáng sớm, khi sương còn đọng trên lá, má tôi với chị dâu tương lai và mấy cô hàng xóm ra đồng, ngồi xổm giữa những luống hành, nhổ từng bụi, giũ đất, bó lại. Mùi hành tím nồng tới cay mắt, theo vào tận trong nhà, trong mền, trong tóc.

Năm đó hành rớt giá. Ba tôi đi hỏi lái, về ngồi ở hiên, im lặng hút thuốc tới khuya. Hai ngàn rưỡi một ký. Năm ngoái mười hai ngàn. Tôi tính trong đầu: hai công đất, trừ tiền giống, tiền phân, tiền nước, tiền thuê người nhổ, nhà tôi lỗ.

Mùng ba Tết, ba gọi tôi ra hiên.

– Anh Hai con cưới vợ sau Chôl Chnăm Thmây. – Ba nói. Ba nói tiếng Khmer với tôi, như mọi khi ở nhà. – Nhà cần tiền làm đám. Hành thì vậy. Con gái học chi nhiều. Hết năm nay con về phụ má.

Tôi không cãi. Ở nhà tôi, con gái không cãi ba. Tôi chỉ nói: dạ, con nghĩ.

Ba nhìn tôi, như biết chữ "con nghĩ" của tôi có nghĩa là gì. Rồi ba đứng dậy đi vào trong.

Sau Tết, lên lại dãy trọ, tôi không kể với ai. Tôi chỉ đi dạy kèm thêm một nhà nữa, ba buổi một tuần, dạy Văn cho một đứa lớp chín ở gần chợ. Tôi tính: mỗi tháng thêm sáu trăm ngàn, gửi về cho ba. Không đủ để ba đổi ý. Nhưng đủ để ba khó mở miệng.

Mi Lan có điểm học kỳ một. Ba phẩy hai. Nó dán tờ bảng điểm lên cửa phòng số bảy bằng băng keo, đúng chỗ mắt, để ai đi ngang cũng thấy. Nó nói dán cho ba nó thấy nếu ba nó có tới. Ba nó không tới.

Đêm hội trại hai mươi sáu tháng Ba năm đó, trường tổ chức ở một cái cồn giữa sông Hậu, cách bến Ninh Kiều chừng mười phút đò máy. Mỗi khoa một trại. Khoa tôi thiếu tre với bạt, vì xe chở bị hư giữa đường. Chị bí thư Đoàn khoa đứng giữa sân trường, cầm điện thoại, mặt như sắp khóc.

– Tụi em chở được. – Huấn nói, khi nghe tôi kể. – Bằng xuồng.

– Từ rạch Bằng Lăng ra cồn bao xa?

– Chèo men bờ chừng một tiếng rưỡi. Có con nước ròng đẩy thì lẹ hơn.

– Qua sông Hậu thì sao? Sông lớn mà.

– Băng ngang chỗ hẹp nhất, gần cồn. Tui chèo. Hổng sao.

Siêm không nói gì. Nó chỉ đi vào phòng lấy cái áo phao màu cam cũ mà nó mua ở chợ đồ cũ hồi tháng Mười, áo phao duy nhất trong bốn đứa, đặt vào lòng tôi.

– Mi mặc. – Nó nói. – Mi không biết bơi.

Tôi không biết bơi thật. Ở Vĩnh Châu có biển, có kênh, có sông, nhưng con gái nhà tôi không ai cho học bơi. Tôi ngạc nhiên vì nó biết. Tôi chưa bao giờ nói.

Chiều hai mươi lăm, chúng tôi chở hai mươi cây tre với ba tấm bạt ra cồn. Xuồng nặng, mạn chỉ còn cách mặt nước một gang tay. Huấn chèo đuôi, Siêm chèo mũi, Mi Lan ngồi giữa giữ đống tre, tôi ngồi trên đống bạt, mặc áo phao cam. Ra tới sông Hậu, nước rộng mênh mông, sóng từ những chiếc ghe máy chạy ngang dội vào hông xuồng, nước tạt lên ướt cả đống bạt. Mi Lan la oai oái. Huấn hét "ngồi im!". Siêm không nói gì, nhát chèo dài và đều, mắt nhìn thẳng vào mũi cồn.

Một tiếng rưỡi sau, chúng tôi cập cồn. Chị bí thư Đoàn khoa ôm tôi, ôm luôn Mi Lan dù không quen.

Đêm đó, lửa trại cháy giữa cồn, tiếng nhạc, tiếng hát, tiếng cười từ hai chục cái trại vang tới tận bờ bên kia. Chúng tôi cột xuồng vào một gốc bần ở mé cồn phía đầu nguồn, chỗ khuất gió. Huấn cột hai vòng, thắt nút kiểu dân chài, giật thử ba lần.

Mười giờ rưỡi, gió đổi.

Cuối tháng Ba ở miền Tây chưa phải mùa mưa. Nhưng có những năm, cơn giông đầu mùa tới sớm. Không có báo trước. Chỉ có một luồng gió lạnh thổi ngược từ hạ nguồn lên, rồi bầu trời phía biển chớp sáng, rồi một tiếng sấm dài như ai kéo cái bàn sắt trên nền gạch. Mưa đổ xuống không phải từng hạt. Mưa đổ xuống từng tấm.

Lửa trại tắt phụt. Người ta la, người ta chạy vô trại, bạt kêu phần phật. Tôi chạy theo Mi Lan vào trại khoa tôi. Rồi tôi nghe Huấn la, ngoài mé cồn:

– Xuồng! Xuồng tuột rồi!

Tôi không nhớ mình chạy ra đó bằng cách nào. Tôi chỉ nhớ đứng trên mé cồn, mưa quất vào mặt rát như cát, chân lún trong bùn. Sợi dây cột xuồng vẫn còn nằm vòng quanh gốc bần, hai vòng, nút dân chài, nhưng đầu kia đứt. Có lẽ một khúc cây trôi, hay một con sóng từ chiếc ghe nào đó chạy ngang, đã giật nó.

Ngoài sông, cách bờ chừng bốn chục thước, có một cái bóng đen nhỏ đang trôi xuôi theo dòng nước, chòng chành trên những con sóng bạc đầu.

– Đèn! – Siêm hét lên. – Ai có đèn!

Tôi có đèn. Cây đèn pin nhỏ tôi luôn bỏ trong túi vải, thói quen từ nhỏ ở Vĩnh Châu, nơi đêm nào cũng cúp điện. Tôi móc ra, bật lên, đưa cho Siêm.

Nó không cầm. Nó cởi áo, cởi giày, đẩy cái đèn vào tay tôi.

– Mi soi. – Nó nói. – Soi theo xuồng. Đừng soi theo tau.

Rồi nó nhảy xuống sông.

Huấn la lên một tiếng gì đó tôi không nghe rõ. Mi Lan chụp cánh tay tôi, móng tay bấm vào da. Tôi đứng đó, cầm cây đèn pin, soi theo cái bóng đen của chiếc xuồng. Mưa xé ánh đèn ra thành từng sợi. Thỉnh thoảng, ở rìa vòng sáng, tôi thấy một cái đầu người nhô lên, rồi chìm, rồi nhô lên, gần chiếc xuồng hơn một chút.

Tôi không biết bao lâu. Huấn nói sau này là bảy phút. Với tôi nó dài hơn năm học lớp mười hai.

Rồi cái đầu người chạm vào mạn xuồng. Một cánh tay vươn lên, bám lấy. Chiếc xuồng nghiêng hẳn về một phía, tôi tưởng nó lật. Rồi nó không lật. Cái bóng người leo được nửa người lên xuồng, nằm vắt ngang như cái bao gạo, rồi trườn vào trong.

Chiếc xuồng trôi thêm một quãng, rồi từ từ, rất chậm, quay mũi lại. Không có mái chèo. Mái chèo vẫn nằm trên bờ, cạnh chân Huấn. Siêm chèo bằng hai bàn tay.

Hai mươi phút sau, chiếc xuồng cập vào một bãi bùn cách chỗ chúng tôi đứng gần trăm thước về phía hạ nguồn. Huấn chạy tới đầu tiên. Rồi Mi Lan. Rồi tôi, cây đèn pin vẫn bật trong tay.

Siêm ngồi trong lòng xuồng, run bần bật, môi tím ngắt, hai bàn tay đỏ lựng và trầy xước. Nước mưa và nước sông chảy ròng ròng từ tóc nó xuống.

Huấn túm lấy vai nó, lắc.

– Mày điên hả! Xuồng mất thì mua chiếc khác! Mày chết thì ai mua mày!

Siêm nhìn Huấn. Nó run tới mức răng đánh vào nhau lập cập, nhưng nó vẫn nói, từng chữ:

– Mua chiếc khác... thì không phải... chiếc ni.

Huấn buông vai nó ra. Mi Lan cởi cái áo khoác của nó, trùm lên lưng Siêm. Tôi đứng đó, cầm cây đèn pin, và tôi hiểu chữ "liều".

Đêm đó, mưa tạnh lúc gần một giờ sáng. Lửa trại không nhóm lại được, nhưng ai đó đốt một cái bếp than nhỏ trong trại khoa tôi. Siêm ngồi sát bếp, quấn hai cái mền mượn của ai đó. Huấn và Mi Lan ngủ gục trong góc, vai tựa vào nhau, có lẽ không biết. Tôi ngồi đối diện Siêm, giữa hai đứa là cái bếp than đỏ hồng.

– Sao bạn biết mình không biết bơi? – Tôi hỏi.

Siêm nhìn than một lúc.

– Mi ngồi xuồng lúc mô cũng nắm be xuồng bằng hai tay. – Nó nói. – Người biết bơi không nắm.

Tôi không nói gì. Nó tiếp:

– Mẹ tau cũng không biết bơi. Mẹ tau đi thuyền qua sông Lam bán rau, lúc mô cũng nắm hai tay như rứa.

– Ba bạn đâu?

– Mất rồi. Năm tau mười hai tuổi. Tau là anh cả. Dưới tau ba đứa.

Nó nói bằng cái giọng mà tôi về sau nghe nhiều lần, cái giọng nói chuyện lớn như nói chuyện nhỏ, không nhấn chữ nào. Tôi đã nghe giọng đó ở đâu. Rồi tôi nhớ ra: giọng ba tôi, ngồi ở hiên, nói hành hai ngàn rưỡi một ký.

– Mỗi tháng tau gửi về một triệu rưỡi. – Siêm nói. – Vác cá ba tuần là đủ. Tuần thứ tư tau để ăn.

– Còn học phí?

– Tau có học bổng. Năm nhất. Năm hai thì chưa biết.

Than trong bếp kêu tí tách. Ngoài trại, gió đã lặng. Từ bờ bên kia vọng sang tiếng một chiếc ghe máy chạy đêm, xa dần.

Tôi kể cho Siêm nghe chuyện hành tím. Chuyện ba tôi ngồi ở hiên. Chuyện anh Hai cưới vợ. Chuyện "con gái học chi nhiều". Tôi chưa kể chuyện đó cho ai, kể cả Mi Lan, kể cả Huấn, người mà tôi biết sáng nào cũng cố tình để chừa chỗ ngồi giữa xuồng cho tôi. Tôi kể cho Siêm vì đêm đó, ở trên cái cồn giữa sông Hậu, nó là người duy nhất hiểu tiền hành hai ngàn rưỡi một ký có nghĩa là gì.

Siêm nghe hết. Rồi nó nói:

– Mi đừng về.

– Mình chưa quyết.

– Mi quyết rồi. – Nó nói. – Mi đi dạy kèm thêm một nhà. Tau thấy mi đi lúc bảy giờ tối thứ Ba, thứ Năm, thứ Bảy. Người chưa quyết không đi dạy thêm.

Tôi nhìn nó. Thằng con trai này, ba giờ sáng đi vác cá, sáu giờ rưỡi chèo xuồng đi học, ngồi trong lớp không nói một câu tiếng Nghệ, mà thấy hết.

Sáng hôm sau, bốn đứa chèo xuồng về. Trời trong veo như chưa từng có giông. Chiếc xuồng vẫn chạy tốt, con cá thiếc dưới đáy vẫn kín, chỉ có một vết trầy mới chạy dọc hông xuồng, chỗ Siêm bám vào.

Chiều đó, điện thoại tôi đổ chuông. Ba tôi.

Ba nói tiếng Khmer, ngắn gọn như mọi khi. Ba nói lái đã trả giá hành lên được ba ngàn. Ba nói đám cưới anh Hai định ngày rồi, sau Chôl Chnăm Thmây ba tuần. Ba nói má khỏe.

Rồi ba nói câu cuối, bằng cái giọng không nhấn chữ nào:

– Hè này con về luôn. Ba nói với nhà trường rồi.

— Hết chương 3 —

Mục lục Miếng thiếc hình con cá dưới đáy xuồng

  1. 1Huấn – Chiếc xuồng một triệu rưỡi9 phút
  2. 2Mi Lan – Câu giới thiệu tôi đã xóa11 phút đọc
  3. 3Chăn Đa – Chữ liều giữa sông Hậu11 phút đọc
  4. 4Huấn – Tích phân dưới chân cầu sắt10 phút đọc
  5. 5Mi Lan – Hai chuyện trong cùng một đêm10 phút đọc
  6. 6Chăn Đa – Ba bịch tiền dưới áo phao9 phút đọc
  7. 7Huấn – Con rạch thứ mười một9 phút đọc
  8. 8Mi Lan – Tôm nổi đầu ở Đầm Dơi9 phút đọc
  9. 9Chăn Đa – Năm đi bộ bốn cây số9 phút đọc
  10. 10Siêm – Ba trăm ngàn một tháng9 phút đọc

Về truyện này

Miếng thiếc hình con cá dưới đáy xuồng là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Ánh của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →