Chương 8: Còn ba ngày: Cái chòi trên cây xoan
Cái chòi cú bắt đầu từ một cánh cửa.
Sáng hôm sau, còn ba ngày, anh Toòng ra nhà kho từ lúc năm giờ, trước cả thợ. Anh đi một vòng quanh đống đồ cũ các chú thợ dỡ ra hôm qua. Có mấy chồng ngói, mấy bó rui mè, mấy tấm tôn rỉ, một cái cửa sổ gỗ. Có cả hai cánh cửa kho to tướng, tháo ra để lấy lối khiêng đồ. Anh đứng nhìn hai cánh cửa ấy một lúc lâu, gõ gõ ngón tay lên mặt gỗ, ghé tai nghe.
– Gỗ mít. – Anh nói. – Già lắm rồi. Mà còn chắc. Không mọt.
Tớ với Khuyên với Chõe đến lúc sáu giờ, mang theo nắm xôi lạc bà nội gói cho. Anh Toòng ăn xôi, mắt vẫn nhìn cánh cửa. Ăn xong, anh lau tay vào quần, lấy trong túi ra một cái thước cuộn, một mẩu bút chì, một cái ê ke sắt.
– Bé kính. – Anh gọi Khuyên. – Đọc lại cái số hôm qua anh nghe.
Khuyên mở cuốn sách tranh, đọc. Cao sáu mươi phân. Sâu bốn mươi phân. Rộng bốn mươi phân. Cửa tròn, đường kính mười lăm phân, khoét ở mặt trước, cách đáy chừng hai mươi phân, để cú con không ngã ra ngoài. Mái dốc. Đáy có lỗ thoát nước.
Anh Toòng không ghi ra giấy. Anh nghe một lần là nhớ. Anh lấy bút chì kẻ lên mặt cánh cửa, kẻ những đường thẳng tắp, ê ke đặt vào góc nào cũng vuông. Rồi anh cầm cái cưa tay của chú Biền, ngồi xổm, cưa.
Tớ chưa bao giờ thấy ai cưa như anh Toòng. Lưỡi cưa đi lên đi xuống đều đặn, không nhanh, không chậm, mạt cưa vàng rơi xuống như bột ngô. Đường cưa đi thẳng như theo một sợi chỉ. Anh cưa xong một tấm, đặt sang bên, cưa tiếp tấm khác. Sáu tấm gỗ: một tấm đáy, một tấm nóc, hai tấm hông, một tấm lưng, một tấm mặt trước. Tấm lưng anh không đóng chết. Anh bắt hai cái bản lề sắt tháo từ cái cửa sổ cũ, để mở ra đóng vào được như một cánh cửa nhỏ, cài bằng một cái then gỗ. Anh bảo sau này còn phải mở ra mà dọn.
– Tõm. – Anh gọi. – Cầm cái giấy ráp. Chà cho nhẵn mấy cái mép này. Chà đi chà lại theo một chiều thôi. Mép mà ram ráp thì cú con đứng xước chân.
Tớ ngồi chà. Chà tới mức hai bàn tay đỏ ửng, mỏi nhừ, mà mép gỗ mới bớt ram ráp có một tí. Anh Toòng thỉnh thoảng đi qua, sờ thử, lắc đầu, bảo "chà nữa". Tớ chà nữa.
Chõe được giao việc giữ đinh. Chõe ngồi cạnh anh Toòng, tay cầm cái hộp đinh, anh chìa tay ra là nó đặt vào tay anh một cái. Chõe thề sẽ ngồi im. Ngồi im được chừng mười phút thì nó bắt đầu hỏi. Anh Toòng ơi cái đinh này dài bao nhiêu? Anh Toòng ơi sao anh không dùng cái đinh to? Anh Toòng ơi anh có sợ đóng vào tay không? Lạ một điều, anh Toòng không gắt. Anh trả lời từng câu, ngắn gọn, mắt vẫn nhìn mặt gỗ.
Khuyên thì ngồi vẽ. Khuyên vẽ cái chòi lên mặt sau một tờ lịch cũ, vẽ đủ sáu mặt, ghi kích thước từng mặt, để anh Toòng đối chiếu. Thật ra anh Toòng chẳng cần, nhưng anh vẫn cầm tờ lịch lên xem, gật đầu, rồi đặt nó dưới một hòn gạch cho gió khỏi thổi bay.
Tới trưa, sáu tấm gỗ đã thành một cái hộp. Cái hộp gỗ mít nâu sẫm, mặt trước khoét một cái lỗ tròn vành vạnh. Anh Toòng khoét cái lỗ ấy bằng cách khoan một vòng lỗ nhỏ bằng cái khoan tay, rồi lấy cái đục đục dần, rồi lấy giấy ráp mài. Khuyên đo lại bằng thước: đúng mười lăm phân.
Chiều, anh lấy một tấm tôn rỉ, cắt ra, uốn thành cái mái dốc, đóng đè lên nóc hộp, cho mái thò ra trước một khoảng để mưa không tạt vào cửa. Rồi anh lấy một khúc gỗ tròn bằng cổ tay, đóng ngang dưới cái cửa tròn, thò ra ngoài một gang tay.
– Cái này để làm gì? – Chõe hỏi.
– Cái hiên. – Anh Toòng nói. – Cú con lớn thì nó trèo ra đây đứng, ngó ra ngoài, tập vỗ cánh. Đứng trên hiên tập cho quen rồi mới bay.
Khuyên mở to mắt nhìn anh.
– Sách không có cái hiên.
– Sách thì sách. – Anh Toòng nói. – Ông nội anh ngày xưa nuôi chim sáo, lồng nào cũng có cái cây ngang cho nó đứng.
Anh im lặng một lúc, tay vẫn cầm cái búa. Rồi anh nói tiếp, mắt không nhìn ai:
– Ông nội anh mất rồi. Con sáo ông nuôi, ông mất thì chẳng ai cho ăn đúng bữa. Anh mới lên tám, anh cho nó ăn cơm. Con sáo không chịu ăn cơm. Được một tuần thì nó chết trong lồng.
Không ai nói gì. Chõe ngồi im, lần đầu tiên trong ngày.
– Hôm trước bé kính bảo cú con nuôi trong lồng hay chết. – Anh Toòng nói. – Anh biết là đúng. Anh biết từ trước. Anh chỉ không muốn biết.
Rồi anh cầm búa, đóng nốt cái đinh cuối cùng.
Tối hôm ấy, ba đứa lại ngồi trên hiên nhà bà, nhìn sang nhà kho. Bọn tớ ngồi canh đã thành thói quen, như người ta ngồi xem ti vi. Bà nội mang ra đĩa ổi. Chõe mang sang túi bỏng.
Tám giờ kém mười lăm, cái bóng trắng thứ nhất trượt ra khỏi lỗ thông hơi, bay về phía đồng.
Chừng một phút sau, cái bóng trắng thứ hai trượt ra theo.
Chõe đánh rơi túi bỏng. Hai cái bóng trắng bay song song một quãng, rồi tách ra, một cái rẽ về phía cánh đồng làng bên, một cái lượn thấp trên ruộng mạ nhà bác Sứ.
– Hai con! – Chõe thì thào. – Chú Quang nói đúng! Có cả cú bố!
– Thế mà mấy hôm nay mình cứ tưởng có mỗi cú mẹ. – Tớ nói.
Khuyên không nói gì. Khuyên nhìn theo hai cái bóng trắng cho tới khi chúng tan vào bóng tối. Tớ đoán Khuyên đang tính: hai con đi săn, thì bốn đứa con trên sàn gác ít đói hơn bọn tớ tưởng. Mà cũng có nghĩa là có hai đứa phải tìm ra cái chòi mới.
Sáng hôm sau, còn hai ngày, trời oi bức như có ai úp cái nồi hấp lên cả làng. Không một gợn gió. Lá tre đứng im. Mặt ao phẳng lì, mấy con chuồn chuồn bay sát mặt nước. Bà nội ngước nhìn trời, nhíu mày, bảo "trời này thể nào chiều cũng có dông".
Anh Toòng đục cái lỗ thoát nước dưới đáy chòi, năm cái lỗ nhỏ bằng hạt ngô. Rồi anh quét lên mặt ngoài cái chòi một lớp dầu luyn chú Biền cho, cho gỗ khỏi ngấm mưa. Dầu luyn đen bóng, mùi hắc hắc. Cái chòi đen bóng nằm phơi giữa sân gạch, trông như một cái đài phát thanh cũ.
Rồi đến việc treo chòi.
Cây xoan đứng cách đầu hồi nhà kho chừng chục bước chân, cao hơn mái kho, cành lá xum xuê. Ông Hàm bảo giữ lại cây xoan này cho sân chơi sau này có bóng mát. Chú Biền đứng dưới gốc, ngửa cổ nhìn lên, rồi nhìn sang cái lỗ thông hơi, rồi nhìn lên cây xoan, như đang đo.
– Phải treo ngang tầm cái lỗ thông hơi. – Khuyên nói. – Cửa chòi quay về phía nhà kho. Để cú mẹ bay ra là thấy ngay.
Chú Biền gật đầu.
Chú Biền buộc một sợi dây thừng ngang lưng anh Toòng, đầu dây chú cầm dưới gốc, chùng chùng theo anh. Anh Toòng leo lên cây xoan. Anh leo như con sóc, chẳng cần thang, hai tay ôm thân cây, hai bàn chân kẹp, nhích lên, nhích lên, lên tới cái chạc ba to, ngồi vắt vẻo. Chú Biền với hai chú thợ buộc cái chòi vào một sợi dây thừng, anh Toòng ở trên kéo lên. Cái chòi đen bóng lắc lư lên dần, lên dần, lên tới chạc ba. Anh Toòng lấy dây thép buộc cái chòi vào thân cây, buộc ba vòng ngang, hai vòng dọc, vặn chặt bằng kìm, rồi lấy thêm hai thanh gỗ đóng chéo chống ở dưới đáy.
– Lệch chưa? – Anh gọi xuống.
Khuyên đứng dưới đất, chạy lùi ra xa, nheo mắt nhìn, chạy sang trái, chạy sang phải.
– Xoay sang trái một tí! Cho cửa nhìn thẳng vào lỗ thông hơi!
Anh Toòng nới dây, xoay. Khuyên gật. Anh buộc lại.
Đứng dưới sân nhìn lên, cái chòi đen nằm gọn trong cái chạc ba cây xoan, cái cửa tròn đen ngòm nhìn sang cái lỗ thông hơi tròn đen ngòm trên đầu hồi nhà kho. Như hai con mắt nhìn nhau.
Anh Toòng tụt xuống. Chú Quang đạp xe tới từ xã, lên tận nơi xem. Chú đứng dưới gốc xoan, ngửa cổ nhìn rất lâu.
– Đẹp. – Chú nói. – Chòi đẹp hơn chòi trong ảnh tài liệu.
Anh Toòng không nói gì, nhưng tớ thấy hai cái tai anh đỏ lên.
Đúng lúc ấy, từ phía tây, có một tiếng ầm ì kéo dài.
Mọi người cùng quay lại. Chân trời phía tây, sau rặng tre làng bên, mây đen đang kéo lên. Mây đen kịt như mực, xám chì ở đáy, cuồn cuộn như khói, chậm mà chắc, ngốn dần cái nền trời trắng đục. Một luồng gió đầu tiên thổi qua, mát lạnh, làm lá xoan rào rào. Con trâu nhà ai buộc ở gốc tre ngẩng đầu lên, rống một tiếng.
Chú Biền nhìn cái mây đen. Rồi chú nhìn lên cây xà nóc. Đầu bên kia đã trơ ra vì ngói đã gỡ gần hết, chỉ còn lại một khoảng ngói ở đầu hồi bên này, ngay chỗ có nhà cú.
– Không đợi được đến mai đâu. – Chú nói. – Mưa dông to thế kia, gió quật vào cái mái lệch thế này, tôi không dám chắc.
– Thế làm lúc nào? – Ông Hàm hỏi. Ông đến từ lúc nào, đứng sau lưng mọi người.
– Tối nay. – Chú Quang nói. – Chạng vạng, đợi cú bố cú mẹ bay đi săn. Lấy cú con ra trong lúc bố mẹ vắng nhà, đặt vào chòi. Bố mẹ về, nghe con kêu, tìm sang.
– Mà trước khi mưa. – Chú Biền nói.
Ba người lớn nhìn nhau. Rồi cùng ngước nhìn mây đen. Rồi cùng nhìn xuống anh Toòng, đứng dưới gốc xoan, tay còn cầm cái kìm.
Anh Toòng gật đầu.
Tớ quay sang Khuyên. Khuyên đứng im, mắt nhìn về phía tây, nơi mây đen đang nuốt dần mặt trời. Trời tối sầm lại sớm hơn mọi ngày cả tiếng đồng hồ. Tớ biết Khuyên đang nghĩ gì. Một đêm không trăng, trời dông, tối như hũ nút, ở ngoài đồng.
Tớ thò tay vào túi quần. Cái đèn pin đỏ vẫn nằm đấy, cái mặt kính dán giấy bóng kính đỏ, đèn pin ma của thằng Tõm.
Tớ chìa nó ra cho Khuyên.
– Em cầm. – Tớ nói. – Tối nay chỉ được dùng cái đèn này thôi.
— Hết chương 8 —

🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe