Chương 9: Rằm tháng Giêng ở bản Suối Đỏ
Đêm mười bốn tháng Giêng, không ai ở bản Suối Đỏ đi ngủ.
Bản nằm ở cuối thung lũng Yên Biên, nơi con suối nhỏ từ trên núi đổ xuống chảy qua một bãi đá trắng. Đá dưới lòng suối, hòn nào cũng có vân đỏ, nước chảy qua đỏ lựng lên dưới nắng chiều như ai rải chỉ. Ba mươi nóc nhà sàn dựa lưng vào sườn núi, trước mặt là những thửa ruộng bậc thang mà trận lũ mùa thu đã cào trôi một nửa bờ, giờ người bản đắp lại bằng tay, từng sọt đất một.
Đoàn tiêu đến đây chiều ngày mười bốn, sau hai ngày đi ngược thung lũng. Dọc đường, cứ tới mỗi ngã ba là có một nhóm người áo chàm đứng chờ. Cải dừng xe, ông già bản Suối Đỏ đọc tên bản, Kiều đếm bao. Bản Khuổi Sim ba bao. Bản Nà Lừ ba bao. Bản Pác Ngòi hai bao. Người ta gùi thóc giống lên lưng, cúi chào đoàn tiêu, rồi đi ngược vào những con đường mòn khuất trong núi. Đến bản Suối Đỏ, trên xe chỉ còn bốn bao. Ba bao của bản. Một bao của trại Ngựa Quỳ.
Người bản đón đoàn tiêu bằng rượu ngô và xôi nếp nương. Họ không hỏi chuyện dọc đường. Họ chỉ hỏi một câu, ai cũng hỏi đúng một câu ấy:
– Giống còn sống không?
Cải không trả lời được. Anh ngồi bên bếp lửa giữa nhà sàn của ông già bản, cái gói vải ướt đặt trên một tấm lá chuối trước mặt. Anh đã ủ nó từ trưa ngày mười hai ở sân đình Cửa Hà. Đêm nay là đêm thứ ba.
Cả bản kéo đến ngồi quanh bếp, ngồi chật cả sàn, chật cả cầu thang. Trẻ con nằm ngủ gục trong lòng mẹ. Đàn ông hút thuốc lào, tiếng điếu kêu ròng rọc. Không ai nói to. Kiều ngồi ở góc nhà, cạnh ông nội. Dực ngồi dựa cột. Chú Sún ngủ gật. Tảo ngồi cách xa bếp lửa nhất, sát cửa, như một người khách không được mời.
Gần sáng, khi gà trong bản bắt đầu gáy, ông già bản ra hiệu cho Cải.
Cải mở gói vải. Anh mở chậm, từng lớp một, như người ta mở một cái khăn bọc con chim non. Rồi anh cúi xuống, ghé sát vào ánh lửa, đếm.
Kiều không thấy gì từ chỗ mình ngồi. Nàng chỉ thấy lưng Cải. Cái lưng gầy đứng im rất lâu.
Rồi vai anh rung lên.
– Tám mươi bảy, – anh nói, giọng vỡ ra. – Tám mươi bảy hạt nứt nanh.
Không ai reo. Ở bản Suối Đỏ người ta không reo lúc trời chưa sáng, sợ đánh thức đất. Người ta chỉ thở ra, cả nhà sàn cùng thở ra một lúc, nghe như tiếng gió đi qua rừng tre. Một bà già khóc thút thít. Ông già bản gật đầu, chậm rãi, rồi đứng dậy, cầm cái đèn dầu, đi ra cầu thang.
– Đi gieo.
Sáng rằm tháng Giêng, trời trong. Sương muối đêm qua tan dần trên mặt ruộng thành những sợi khói mỏng. Ruộng mạ của bản Suối Đỏ là ba thửa ruộng bậc thang thấp nhất, sát bờ suối, đất đã được cày bừa nhuyễn từ trước Tết, chỉ chờ giống. Người bản đứng chật trên bờ ruộng. Đàn bà gùi thóc giống đã ngâm ủ từ hai hôm trước, theo lời Cải nhắn về từ Cửa Hà, đứng thành hàng.
Nhưng trước khi gieo, ông già bản làm một việc.
Ông gọi Cải bê cái chậu sành ra.
Chậu mạ giờ đã kín đất, những cây mạ gieo từ đêm sông Lam Thủy đã cao gần bằng một gang tay, đúng như Cải nói, xanh đậm, gốc hơi ửng đỏ, cái màu đỏ của giống Chiêm Đỏ. Những đợt gieo sau thấp dần, như những bậc thang nhỏ. Ba mươi lăm ngày đường nằm trong cái chậu ấy, từng đêm một.
– Lệ bản, – ông già nói, – mạ của người đi xa mang về thì cấy trước. Cấy ở góc ruộng đầu nguồn, để nước chảy qua nó trước rồi mới chảy xuống ruộng khác.
Ông nhìn quanh đám đông, rồi dừng lại ở Tảo.
Tảo đứng ở cuối bờ ruộng. Thằng bé đã nghe Cải kể với các già chuyện đêm ở Cổ Lũy. Cải kể hết, không giấu chữ nào. Từ hôm qua đến giờ, người bản nhìn nó bằng cái nhìn mà Kiều không đọc được.
– Thằng kia, – ông già nói. – Lại đây.
Tảo bước lại. Chân nó run.
– Lệ bản cũng có điều này, – ông già nói. – Đứa nào làm hỏng giống của bản thì phải ở lại bản làm một vụ, từ lúc gieo đến lúc gặt, không công. Mày làm hỏng ba mươi bao.
Tảo cúi đầu.
– Con xin ở lại.
– Mày cũng là đứa đi bộ sáu ngày một mình qua rừng lim, không gạo không chăn, vào kho người ta đếm lại ba mươi bao. – Ông già nói tiếp, giọng không đổi. – Cái ấy bản cũng tính. Vậy thì mày ở lại một vụ. Và mày cấy cây mạ đầu tiên.
Ông già trao cái chậu sành vào tay Tảo.
Thằng bé ôm cái chậu, đứng đó, nước mắt chảy ròng ròng mà không đưa tay lau được. Cải lội xuống ruộng trước, chìa tay ra cho nó. Tảo lội theo. Bùn ngập đến bắp chân, lạnh buốt. Cải chỉ cho nó cách nhổ mạ, từng nhúm, rũ đất, cầm sát gốc. Chỉ cho nó cách cắm xuống bùn bằng ba ngón tay, không sâu quá, không nông quá. Tảo làm sai hai lần. Đến lần thứ ba thì được. Bàn tay khéo nhất đoàn tiêu Thuận Phong cắm cây mạ đầu tiên xuống góc ruộng đầu nguồn bản Suối Đỏ, chỗ nước suối đỏ chảy vào.
Rồi cả bản xuống ruộng gieo. Đàn bà vãi thóc giống thành những vòng cung đều đặn, hạt thóc rơi xuống mặt bùn kêu lách tách như mưa nhỏ.
Ông Cương đứng trên bờ ruộng rất lâu. Kiều đứng cạnh ông.
– Ông, – nàng nói. – Giao đủ rồi.
– Ừ, – ông nói. – Giao đủ rồi.
Ông không nói gì thêm. Nhưng Kiều thấy ông đưa bàn tay trái lên, ba ngón tay khẽ chạm vào cái túi trước ngực áo, nơi ông cất tấm bản đồ, dải vải viết bằng than, và hợp đồng của chuyến hàng.
Trưa hôm ấy, các già bản Suối Đỏ trả tiền công cho đoàn tiêu. Ba mươi tám quan đã trả từ ở Hòa Lãng. Các già muốn trả thêm. Bản không có tiền. Họ mang ra hai gùi thịt trâu gác bếp, bốn ống mật ong rừng, một bao gạo nương và một cái khăn dệt thổ cẩm.
– Hợp đồng ghi ba mươi tám quan, – ông Cương nói. – Lão nhận gạo, vì đoàn cần ăn đường về. Còn lại, bản giữ lấy mà ăn cho đến mùa gặt.
– Ông không nhận thì bản mang nợ, – ông già nói.
– Thế thì bản giữ cho tiêu cục Thuận Phong một chuyến. – Ông Cương cười. – Năm nào bản cần đưa hàng xuống xuôi thì gọi. Lão đến.
Dực đến trước mặt ông già bản, mở túi tiền, đặt xuống một quan tiền đồng.
– Bao thóc giống của trại Ngựa Quỳ, – cậu ta nói. – Cha cháu dặn trả sòng phẳng.
– Bản không lấy tiền giống của người đã cùng đi đón giống về.
Dực nghĩ một lúc. Rồi cậu ta cười. Lần đầu tiên từ lúc theo đoàn, Kiều thấy cậu ta cười hẳn hoi, cả đôi lông mày rậm cũng giãn ra.
– Thế thì không phải tiền giống. – Cậu ta đẩy quan tiền về phía ông già. – Lệ trại cháu, một xe hàng qua đèo nộp một quan. Đây là tiền đường. Trại cháu nộp cho bản, vì bao giống này đi qua thung lũng của bản.
Ông già bản nhìn cậu ta, rồi nhìn quan tiền, rồi bật cười to đến mức mấy con gà dưới gầm sàn chạy toán loạn.
Ba ngày sau, đoàn tiêu Thuận Phong lên đường về xuôi, thiếu một người, nhẹ hơn ba mươi bao thóc.
Tảo đứng ở đầu bản tiễn, tay chân lấm bùn, mặt đen đi vì nắng núi. Nó không khóc nữa. Nó chỉ dặn Kiều một câu:
– Chị về nói với mẹ em, em đi tiêu một vụ dài. Đừng nói em đi cấy, mẹ em lại cười.
– Còn món nợ tiệm cầm đồ?
– Ông bảo ông lo, – Tảo nói. – Ông bảo người của phủ sẽ xuống Hòa Lãng hỏi chuyện tiệm Vĩnh Phát. Ông bảo một tiệm cầm đồ dám làm việc cho ông Hầu thì sổ sách của nó chắc cũng có nhiều chuyện để hỏi.
Họ đi lại con đường cũ. Qua rừng lim, nơi họ ăn Tết bằng cháo loãng. Qua dốc Mười Tám Khúc, nơi cái trục lim của Dực vẫn kêu cót két dưới gầm xe. Qua Cổ Lũy, nơi viên đề lại họ Mã đã bị người của phủ giải đi từ ba hôm trước. Trạm thuế giờ có một ông đề lại mới, gầy và khó tính, mở cả ba mươi cái bao không của đoàn ra xem rồi mới cho qua.
Đến chân đèo Ngựa Quỳ, ông Cương bảo chú Sún dừng xe.
Ông đi bộ lên đèo, như lần trước. Nhưng lần này không có cây gỗ nào chắn đường. Khang Mục đứng chờ ở bậc đá, nơi Kiều và Dực đã đánh nhau, hai tay buông thõng, không khoanh.
Hai người đàn ông đi lên trại, không nói gì với nhau, đi thẳng đến gốc thông già ở đầu trại. Bà Khang đã ngồi đó từ trước, có đứa bé gái ngồi cạnh. Dưới gốc thông là một nấm mộ đắp đá, rêu phủ xanh một nửa.
Ông Cương quỳ xuống. Ông lấy trong ngực áo ra dải vải trắng viết bằng than mà ông đã cất từ đêm ở bờ sông Lam Thủy, đặt lên mộ, chặn bằng một hòn đá. Rồi ông lấy ra một hòn đá khác, nhỏ bằng quả trứng chim cút, trắng đục, vân đỏ như sợi chỉ máu. Ông già bản Suối Đỏ đã tặng ông hòn đá ấy, hòn thứ mười bốn, cái hòn có vân chạy vòng như sợi chỉ buộc cổ tay.
Ông đặt nó cạnh dải vải.
– Anh Bảo, – ông nói. – Chuyến này em không trễ.
Khang Mục nhìn dải vải trên mộ, rồi nhìn đi chỗ khác.
– Mũi tên ở bờ sông Lam Thủy là tôi sai thằng Dực bắn, – ông ta nói. – Tôi muốn ông biết trước là đèo này còn có người chờ.
– Lão biết, – ông Cương nói. – Lão đã chờ mũi tên ấy ba mươi năm.
Khang Mục rót rượu ra ba cái chén. Một chén để trên mộ. Một chén đưa cho ông Cương. Một chén ông ta giữ lại. Hai người uống, không cụng chén.
– Từ nay ông qua đèo này bao nhiêu lần cũng được, – Khang Mục nói. – Không nộp tiền đường.
– Lão vẫn nộp, – ông Cương nói. – Lệ là lệ.
Khang Mục nhìn ông một lúc, rồi gật đầu. Lần đầu tiên, Kiều thấy ông ta cười, và cái cười ấy giống hệt cái cười của Dực ở bản Suối Đỏ.
Chiều hôm ấy đoàn tiêu xuống đèo. Dực đứng trên bậc đá tiễn, cây sào vác trên vai, không nói câu nào, chỉ giơ tay lên một lần khi xe đã xuống tới khúc quặt. Kiều giơ cây côn cụt đầu lên đáp lại.
Trên xe sau, giữa đống bao không, cái chậu sành vẫn được chèn rơm bốn phía như hôm mới đi. Lúc chia tay, Cải đã rửa sạch nó, đổ đầy một chậu đất đỏ mới, đưa cho Kiều. Nàng tưởng chậu chỉ có đất. Đến khi xe xuống tới chân đèo, nàng mới thấy ở góc chậu có một cây mạ con, chỉ một cây, hai lá, gốc ửng đỏ.
Cải đã cố ý để lại.
Ông Cương ngồi ở xe trước, ngoái lại nhìn cây mạ ấy suốt một quãng đường đèo. Rồi ông bảo chú Sún cho bò đi chậm lại, kẻo nó đổ.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe