Chương 5: Dốc Mười Tám Khúc
Cái trục xe gãy ở khúc thứ mười một, đúng lúc con bò đi trước đang ghì chân trên một đoạn dốc nghiêng như mái nhà.
Kiều nghe một tiếng rắc khô như tiếng bẻ cành củi, rồi cỗ xe sau chúi xuống về bên trái. Mười lăm bao thóc xô lệch. Chú Sún nhảy xuống, lấy cả vai mình đỡ vào thành xe, miệng kêu một tiếng không thành chữ. Cải nhào lên, ôm lấy cái chậu sành. Dực chạy vòng ra sau, chèn hòn đá to bằng cái nồi vào dưới bánh. Cỗ xe dừng lại cách mép vực chừng ba bước chân.
Dốc Mười Tám Khúc là con đường đá đỏ ngoằn ngoèo leo từ thung lũng sông Nậm Pha lên cao nguyên đá vôi, đếm được đúng mười tám lần quặt, mỗi lần quặt là một khúc. Người đánh xe bò miền xuôi nói lên dốc này một ngày thì xuống dốc bên kia phải nghỉ một ngày, không phải người nghỉ mà bò nghỉ. Đường hẹp, một bên vách, một bên rừng lim già mọc chênh vênh trên sườn núi, thân thẳng và đen như cột đình.
Họ dỡ hết hàng xuống, xếp sát vách. Ông Cương cúi xuống xem chỗ gãy. Cái trục gỗ dẻ đã cũ, nứt từ bên trong, giờ toác hẳn làm hai.
– Phải thay trục, – ông nói. – Gỗ dẻ không có ở đây.
– Có lim, – Dực nói.
– Lim nặng, cứng, khó đẽo.
– Lim tươi thì không khó. – Dực đã cởi cái rìu nhỏ đeo bên hông. – Người trại tôi làm trục xe trâu bằng lim. Đến chiều là xong.
Cậu ta đi vào rừng, chú Sún đi theo. Kiều nghe tiếng rìu chặt vào thân gỗ, đều và chắc như tiếng mõ. Gần một canh giờ sau, hai người khiêng về một đoạn thân lim dài hơn một sải, to bằng bắp chân. Dực ngồi xuống bên vệ đường, đẽo. Cậu ta đẽo nhanh và gọn, dăm gỗ bay ra từng mảng màu đỏ sẫm, thơm một mùi hăng như mùi gừng. Chú Sún giữ đầu gỗ, thỉnh thoảng gật gù.
– Tốt, – chú Sún nói. Đấy là chữ dài nhất Kiều nghe chú nói từ đầu chuyến.
Lúc xế chiều, khi cái trục mới đã gần thành hình, có tiếng trẻ con khóc từ khúc quặt phía trên.
Một nhóm người đi xuống dốc. Một người đàn bà địu đứa bé trên lưng, dắt một đứa lớn hơn chừng sáu tuổi. Sau lưng chị là một ông già chống gậy tre và một cậu thiếu niên gánh đôi quang gánh nhẹ tênh, hai cái thúng chỉ có mấy cái chăn rách và một cái nồi đất. Họ mặc áo chàm giống áo Cải, chân không giày, gót nứt nẻ rớm máu.
Cải đứng bật dậy. Anh nói với họ bằng tiếng bản. Người đàn bà trả lời, rồi òa lên khóc.
Họ ở bản Nà Lừ, cách bản Suối Đỏ của Cải nửa ngày đường. Lũ cuốn sạch ruộng nhà chị từ mùa thu, cuốn cả chồng chị. Thóc ăn nhà còn được ba bồ thì hết từ tháng Mười một. Bản Nà Lừ bây giờ đã hơn một nửa số nhà cầm ruộng cho vựa Phúc Thái lấy giống và gạo ăn. Nhà chị không còn ruộng mà cầm, nên đi xuống Cổ Lũy, nghe nói ở đó có chỗ phát cháo.
– Người của ông Hầu lên bản, – ông già nói, giọng run như dây đàn cũ. – Họ bảo mười hai bản góp tiền cho thằng Cải đi miền xuôi mua giống là ném tiền xuống suối. Họ bảo đường xa như thế, nó đi không về đâu. Họ bảo đến rằm mà không thấy nó thì giá giống của vựa lên gấp đôi. Thế là nhà nào sợ thì cầm ruộng trước cho rẻ.
Cải đứng im. Hai bàn tay anh nắm lại, những vết cóng đỏ tím trên đốt ngón tay căng ra.
– Bản Suối Đỏ thì sao ông?
– Bản Suối Đỏ chưa ai cầm. – Ông già nhìn anh, rồi nhìn những bao thóc xếp sát vách. – Ông già bản mày bảo, thằng Cải đã hứa thì nó về. Cả bản đang chờ mày như chờ mưa.
Ông Cương bảo Kiều lấy gạo. Kiều mở bao gạo ăn của đoàn, đong ra hai bát đầy cho vào cái nồi đất của người đàn bà. Chị chắp hai tay vái mãi. Đứa bé sáu tuổi không khóc nữa, đứng nhìn chằm chằm vào cái chậu sành, nơi những cây mạ non đã lên hai lá, xanh như lông con chim chả.
– Cái gì đấy chú? – nó hỏi Cải bằng tiếng bản. Kiều không hiểu chữ nhưng hiểu ý.
Cải ngồi xổm xuống, cho nó sờ vào ngọn mạ.
– Giống của bản mình đấy. Về đến nhà là cao bằng chừng này. – Anh giơ bàn tay ra, đo một gang.
Nhóm người ấy đi khuất ở khúc quặt dưới. Không ai nói gì thêm cho đến lúc trời tối.
Họ lắp xong trục mới khi trăng vừa lên, rồi quyết định ngủ lại ngay tại chỗ, dưới một mỏm đá nhô ra có thể che sương. Đốt hai đống lửa. Đêm trên cao nguyên lạnh hơn hẳn dưới thung lũng. Hơi thở ra thành khói. Tảo quấn chăn kín đầu, chỉ thò ra cái mũi đỏ.
Kiều canh phiên đầu với Dực. Gần canh hai, Dực đứng dậy, cầm sào, đi ra mép đường nhìn xuống khúc quặt dưới.
– Có người, – cậu ta nói khẽ. – Bảy, tám đứa. Không cầm đuốc.
Ông Cương ngồi dậy ngay. Kiều chưa kịp đánh thức ai thì chú Sún đã đứng dậy, Cải đã ôm cái chậu sành vào lòng.
Những bóng người leo lên từ khúc dưới, lặng lẽ, không theo đường mà leo thẳng qua sườn rừng. Khi họ bước ra vùng sáng của đống lửa, Kiều thấy họ cầm gậy, cầm dao rựa, có người chỉ cầm một hòn đá. Họ gầy, áo rách, mắt đỏ. Họ không phải cướp. Họ là đói.
– Để thóc lại, – một người nói, giọng khàn. Anh ta chừng ba mươi tuổi, tay cầm dao rựa run lên. – Để thóc lại, chúng tôi không động vào ai.
– Đây là thóc giống, – ông Cương nói.
– Giống hay ăn thì cũng là thóc. Giã ra là có gạo.
Hai người đàn ông xông về phía đống bao. Dực chặn lại. Cây sào của cậu ta vung một vòng ngang, đầu sào không bịt sắt nữa, quật vào cổ tay người đi đầu. Con dao rựa rơi xuống. Người thứ hai lách qua, chộp lấy một bao thóc. Kiều phóng côn ra, gạt đúng vào khuỷu tay hắn, rồi xoay côn, móc chân hắn kéo ngã ngồi xuống đất. Không ai chảy máu. Không ai được đến gần đống bao thêm một bước nào.
– Thôi! – ông Cương quát.
Tiếng ông vang khắp mỏm đá, to đến mức cả hai bên đều khựng lại. Ông bước ra giữa, đứng giữa đám người đói và ba mươi bao thóc, hai tay buông thõng, không cầm gì.
– Các anh nghe tôi nói một câu, rồi muốn làm gì thì làm. Ba mươi bao này là giống của mười hai bản trong thung lũng Yên Biên. Các anh ở đâu?
Người cầm dao rựa ngập ngừng.
– Bản Khuổi Sim.
– Bản Khuổi Sim cũng trong mười hai bản. – Cải nói, giọng run lên. Anh bước ra cạnh ông Cương, vẫn ôm cái chậu sành. – Anh Thắm, em là Cải đây. Cải bản Suối Đỏ. Bản Khuổi Sim có góp mười hai quan trong số tiền này. Nhà anh góp con lợn sề, em còn nhớ.
Người tên Thắm nhìn Cải một lúc lâu. Ánh lửa nhảy trên mặt anh ta. Rồi anh ta buông tay. Con dao rựa thứ hai rơi xuống đất.
– Cải… Mày về thật à?
– Em về. – Cải nói. – Anh ăn mấy bao này thì nhà anh no được nửa tháng. Rồi rằm tháng Giêng bản mình lấy gì gieo? Lại đi cầm ruộng cho ông Hầu à?
Không ai nói gì. Gió núi thổi qua làm đống lửa ngả rạp, rồi bùng lên lại.
Ông Cương quay sang Kiều.
– Lấy gạo.
– Ông, gạo của đoàn chỉ còn đủ mười ngày. Ra đến Cửa Hà còn mười hai ngày đường.
– Lấy một nửa.
Kiều nhìn ông. Ông không nhìn lại. Nàng đi lấy bao gạo, đổ ra một nửa vào cái thúng của người đàn ông tên Thắm. Rồi ông Cương lấy ra cái túi tiền của đoàn, đổ một nửa số tiền đồng còn lại vào tay anh ta.
– Đi xuống Cổ Lũy mua thêm. Thóc giống thì không ăn được. Một hạt giống ăn đi là năm sau đói thêm một bát cơm. Các anh về bản, bảo với các già: đoàn của Cải sẽ về trước rằm.
Đám người đói lặng lẽ rút đi. Thắm đi sau cùng. Đến khúc quặt, anh ta quay lại, vái về phía ông Cương một vái thật sâu, rồi biến vào bóng tối.
Đêm ấy, khi mọi người đã nằm, Kiều ngồi cạnh ông nội.
– Ông cho đi một nửa gạo thì mình ăn cháo loãng đến Cửa Hà.
– Mình đói thì mình đi chậm một chút. Không chết.
– Nhưng mình đâu được đi chậm.
– Thì đói mà vẫn đi nhanh. – Ông cười, lần đầu tiên từ lúc lên đèo Ngựa Quỳ. – Tiêu sư mà chỉ đi nhanh được lúc no thì là tiêu sư nhà giàu.
Hai ngày sau, đoàn tiêu xuống hết dốc Mười Tám Khúc, vào cánh rừng lim. Đó là sáng ngày hai mươi tám tháng Chạp, ba đêm sau khi rời Cổ Lũy. Họ dừng lại bên một con suối để bò uống nước. Cải ngồi xuống bên chậu sành, lấy ra miếng vải ướt gói nắm thóc của bao số bảy.
Kiều đang đổ nước vào ống tre, quay lại thì thấy anh ngồi im, miếng vải mở ra trên lòng bàn tay.
Một trăm hạt thóc nằm đó. Vỏ đã ngấm nước sẫm lại. Không một hạt nào có chấm trắng ở đầu.
– Lạnh quá, – Tảo nói, nhìn qua vai anh. – Lạnh thì nó lâu nứt hơn chứ anh?
Cải không trả lời. Anh nhặt một hạt, bóc vỏ trấu bằng móng tay cái. Hạt gạo bên trong không trắng đục như gạo sống. Nó trong và hơi ngả vàng, như gạo đã được hấp lên rồi phơi khô. Anh đưa lên mũi ngửi. Rồi anh bỏ vào miệng cắn. Không có tiếng nứt giòn như hôm ở kho bến Cá. Hạt gạo dẻo quánh lại dưới răng anh.
Anh nhổ nó ra lòng bàn tay, nhìn rất lâu.
– Hạt này chết rồi, – anh nói, giọng nhỏ đến mức Kiều phải cúi xuống mới nghe thấy. – Bao số bảy chết rồi. Nó chết trước khi cháu ủ.
Không ai nhúc nhích. Chỉ có tiếng nước suối chảy qua đá và tiếng hai con bò uống nước, đều đều.
Kiều quay lại nhìn Tảo. Thằng bé đứng đó, tay vẫn cầm cái gáo dừa múc nước. Mặt nó trắng bệch như vừa từ dưới sông Lam Thủy ngoi lên.
— Hết chương 5 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe