Chương 3: Hai ngón tay ở đèo Ngựa Quỳ
Cây gỗ nằm chắn ngang đường đèo to bằng cả một vòng tay người ôm, vỏ còn xanh, vết rìu ở gốc còn rỉ nhựa. Nó mới bị hạ sáng nay.
Chú Sún ghì dây cho hai con bò dừng lại. Không ai phải nói gì. Trên vách đá hai bên, Kiều đếm được mười một người, mỗi người một cây cung tre, mũi tên đã đặt trên dây nhưng chưa kéo. Họ mặc áo chàm sờn, quấn xà cạp, mặt nhiều người có râu, có mấy người đã bạc tóc. Họ không giống những tên cướp trong chuyện kể ở phố cảng. Họ giống những người vừa từ nương xuống, cầm nhầm cung thay vì cầm cuốc.
Sáu ngày từ sông Lam Thủy lên tới đây, đường dốc dần, đồng bằng lùi lại sau lưng, rồi những rặng tre nhường chỗ cho rừng thông và những vạt nương đã thu hoạch, trơ gốc rạ cháy đen. Đèo Ngựa Quỳ nằm giữa hai đỉnh núi, con đường đá uốn qua lưng chừng vách như cái yên ngựa. Gió ở đây thổi một chiều, lạnh và khô, đến mức Tảo phải lấy khăn quấn kín mặt chỉ chừa hai con mắt.
Ông Cương bước xuống xe. Ông tháo thanh đao đeo bên hông, đặt lên càng xe. Rồi ông đi bộ lên, một mình, đến sát thân cây gỗ chắn đường.
– Úc Thừa Cương, tiêu cục Thuận Phong phố cảng Hòa Lãng, xin qua đèo.
Giọng ông không to, nhưng vách đá dội lại, nên nghe như có ba ông Cương cùng nói.
Một người đàn ông từ trên vách đá nhảy xuống, đáp ngay trên thân cây gỗ. Ông ta chừng bốn mươi lăm tuổi, vai rộng, mặt vuông, đôi lông mày rậm gần chạm nhau. Ông ta không cầm cung, cũng không mang đao. Ông ta chỉ khoanh tay, nhìn ông Cương từ trên xuống.
– Tôi biết ông là ai, – ông ta nói. – Tôi là Khang Mục. Ông biết tôi là ai không?
Ông Cương nhìn người ấy một lúc rất lâu.
– Cậu có cái lông mày của cha cậu.
Khang Mục không cười, không giận. Mặt ông ta không động đậy.
– Lên trại.
Trại Ngựa Quỳ nằm khuất sau đỉnh đèo, trong một thung nhỏ có suối, hơn ba chục nóc nhà sàn lợp cỏ tranh, quanh là hàng rào tre vót nhọn. Có trẻ con chạy ra xem, có đàn bà địu con đứng ở cửa. Những vạt nương quanh trại trơ trụi, rạ lúa nương đen cháy vì sương muối, chưa kịp gặt đã chết.
Hai cỗ xe được dắt vào giữa sân trại. Mười một cây cung vẫn đứng quanh. Khang Mục ngồi xuống một khúc gỗ trước nhà sàn lớn nhất, ra hiệu cho ông Cương ngồi khúc gỗ đối diện. Kiều đứng sau lưng ông nội, tay không rời cây côn.
– Lệ của đèo này, – Khang Mục nói, – ai qua thì nộp tiền đường. Một xe hàng một quan. Đổi lại, từ chân đèo bên này xuống chân đèo bên kia, không đứa nào dám động vào một sợi lạt. Ba mươi năm nay trại tôi giữ cái lệ ấy.
– Tôi biết, – ông Cương nói. – Tôi sẽ nộp.
– Ông thì không. – Khang Mục cúi người về phía trước. – Ông không nộp tiền được, vì ông không được qua. Ba mươi năm trước, ông đứng trước mộ cha tôi ở dưới gốc thông kia, thề không bao giờ đặt chân lên cái đèo này nữa. Mẹ tôi kể. Tôi mười lăm tuổi, tôi đứng sau lưng mẹ, tôi nghe. Hôm nay ông đặt chân lên rồi. Ông là người thất hứa lần thứ hai.
– Lần thứ nhất là lần nào? – Kiều hỏi, trước khi nàng kịp giữ miệng.
Khang Mục quay sang nàng. Ông ta nhìn nàng như nhìn một đứa trẻ chen vào chuyện người lớn.
– Hỏi ông nội cô.
Ông Cương không quay lại. Ông nói với Khang Mục:
– Hàng trên hai cỗ xe kia không phải hàng của tôi. Là thóc giống của mười hai bản phủ Yên Biên. Lũ cuốn hết giống, rằm tháng Giêng mà không có giống gieo thì một năm đói. Cậu muốn đòi gì ở tôi thì đòi. Nhưng xin cho hàng qua.
Một tràng cười nổ ra từ phía sau những người cầm cung. Một thanh niên bước ra, chừng hai hai tuổi, cao, gầy, tóc buộc túm, cầm một cây sào tre dài hơn người, đầu sào bịt sắt. Cậu ta có đôi lông mày rậm của Khang Mục.
– Cha, – cậu ta nói, – lão ta nói hay thế, sao không để lão nói tiếp. Thóc giống mười hai bản. Mười hai bản không có giống, còn trại mình thì có à? Nương nhà mình chết hết rồi kia kìa.
– Dực, đứng yên đấy.
– Con chỉ nói lệ thôi. – Khang Dực xoay cây sào một vòng trên tay, đầu sắt vạch một đường trên đất. – Lệ đèo Ngựa Quỳ, đoàn nào không chịu nộp tiền đường thì được quyền đánh qua. Người của đoàn thắng người của trại trên bậc đá thì đi. Thua thì để hàng lại.
Khang Mục im lặng. Lệ ấy có thật. Kiều nhìn mặt những người quanh sân là biết.
– Tôi đánh, – Kiều nói.
– Kiều. – Ông Cương lần đầu quay lại.
– Ông đã thề không đặt chân lên đèo thì ông cũng không đánh nhau trên đèo được. – Nàng nói. – Tảo thì cầm giáo chưa từng đâm ai. Chú Sún phải giữ bò. Anh Cải là khách. Cháu đánh.
Bậc đá của đèo Ngựa Quỳ là một đoạn đường dốc chừng ba mươi bước, lát những phiến đá phẳng, một bên là vách, một bên là vực. Sương muối đêm qua vẫn còn đọng trên mặt đá thành một lớp trắng mỏng như phấn. Cả trại kéo ra đứng xem. Mấy đứa trẻ trèo lên mỏm đá cao nhất.
Khang Dực đứng ở bậc trên. Kiều đứng ở bậc dưới. Đứng dưới thì thua thế, ai học võ cũng biết. Nhưng nàng không đòi đổi.
Cây sào của Dực dài hơn cây côn của nàng gần gấp rưỡi. Ngay đòn đầu, cậu ta đã cho nàng biết điều đó. Đầu sào bịt sắt đâm xuống như con rắn mổ, nhắm vào ngực. Kiều gạt sang trái, đầu sào trượt qua vai nàng, chạm vào vách đá tóe ra mấy tia lửa. Cậu ta rút về nhanh, đâm tiếp vào gối. Nàng lùi một bậc.
Ba đòn, nàng lùi ba bậc. Đám đông trên đèo ồ lên.
– Xuống nữa đi, cô em phố cảng! – ai đó hét. – Xuống chân đèo mà đánh!
Kiều không nghe. Nàng nhìn chân Dực. Cậu ta quen đất này, chân bám đá như chân dê núi. Nhưng chân cậu ta chỉ bám chắc khi đứng trên những phiến đá có rêu. Phiến đá ở bậc thứ tư từ dưới lên, cái bậc mà nàng vừa lùi qua, phẳng và nhẵn nhất, sương muối phủ trắng, không một vết rêu.
Nàng lùi thêm một bậc nữa. Dực bước xuống theo, chân phải đặt lên phiến đá nhẵn ấy, đâm một đòn thẳng.
Kiều không gạt. Nàng hạ thấp người, để đầu sào lướt qua trên tóc, rồi quét cây côn sát mặt đá, không nhắm vào chân cậu ta mà nhắm vào lớp sương muối dưới bàn chân ấy. Gỗ táu chạm đá, gạt lớp sương thành một vệt. Dực dồn hết sức vào đòn đâm, bàn chân trượt trên mặt đá ướt, mất thăng bằng, cả người ngả sang bên phải.
Bên phải là vực.
Cây sào rơi khỏi tay cậu ta, lăn lông lốc xuống sườn núi. Kiều buông côn, chụp lấy cổ tay Dực bằng cả hai tay, ngả người về phía vách. Một bên chân cậu ta đã hẫng ra ngoài mép đá. Nàng nghe tiếng mấy đứa trẻ trên mỏm đá kêu thét lên.
Họ giằng co như thế trong một hơi thở. Rồi Dực tìm được một cái gờ đá bằng chân trái, tự đẩy mình vào. Hai người ngã ngồi xuống bậc đá, thở hồng hộc, tay vẫn nắm tay nhau.
Cả đèo im phăng phắc. Khang Dực nhìn bàn tay Kiều đang nắm cổ tay mình. Cậu ta giật tay ra, mặt đỏ bừng.
– Cô gạt sương. Thế là chơi xấu.
– Anh đứng trên đá nhẵn. Thế là đứng dại, – Kiều nói, vẫn chưa thở ra hơi.
Có người bật cười. Rồi thêm vài người nữa. Khang Mục vẫn không cười. Ông ta đi xuống bậc đá, nhặt cây côn của Kiều lên, nhìn nó một lúc rồi đưa lại cho nàng.
– Theo lệ, hàng được đi.
– Hàng đi, – ông Cương nói, giọng rất đều. – Tôi ở lại.
Kiều quay ngoắt lại.
– Ông!
– Lời thề là của ông. Ông thất hứa thì ông chịu. Cậu Mục muốn giữ ông ở đây làm gì thì làm. Cháu đưa hàng lên Yên Biên, giao cho đủ, rồi về đây đón ông.
Kiều há miệng, nhưng chưa kịp nói gì thì có tiếng gậy gõ xuống đá.
Một bà cụ chống gậy đi ra từ nhà sàn lớn, có một đứa bé gái dắt. Bà gầy và còng, tóc trắng búi sau gáy, hai mắt mờ đục như phủ một lớp sương. Bà đi chậm qua đám đông, người ta rẽ ra hai bên cho bà đi. Bà dừng lại trước ông Cương, nghiêng đầu như nghe ngóng.
– Cương đấy à?
Ông Cương đứng dậy. Kiều chưa bao giờ thấy ông nội mình đứng dậy chậm như thế.
– Chị Bảo.
– Giọng vẫn thế. – Bà cụ đưa tay ra, quờ quạng trong không khí. Ông Cương đưa tay mình cho bà nắm. Bàn tay trái. Bà sờ từng ngón. Một, hai, ba. Rồi bà sờ vào hai chỗ cụt, da đã liền lại bóng nhẵn.
– Ba mươi năm, – bà nói, – năm nào cũng có một gói bạc gửi lên trại, không đề tên. Người đưa thì bảo là của một ông khách buôn phố cảng. Năm đói, năm rét, gói bạc nào cũng đến trước Tết. Thằng Mục không biết. Tôi biết. Tôi chỉ không nói.
Khang Mục đứng sững như bị ai đánh vào gáy.
– Mẹ…
– Mày im. – Bà cụ vẫn nắm tay ông Cương. – Lời thề của ông ấy là thề với chồng tao, không phải với mày. Chồng tao chết rồi. Chỉ có tao được tha lời thề ấy. Tao tha. Cho người ta đi.
Đêm ấy, đoàn tiêu được ngủ lại trong trại. Người ta mang cho họ cơm lam và một nồi canh rau cải đắng nấu với xương. Khang Mục không ăn cùng. Ông ta ngồi một mình trước cửa nhà sàn, nhìn về phía cây thông già ở đầu trại, dưới gốc có một nấm mộ đắp đá.
Gần khuya ông ta mới đến chỗ đống lửa của đoàn tiêu.
– Mẹ tôi tha thì tôi để ông đi, – ông ta nói với ông Cương. – Nhưng có một điều kiện. Thằng Dực đi theo đoàn.
– Để làm gì?
– Để xem ông giữ lời đến đâu. – Khang Mục nói. – Và để mua một bao thóc giống mang về. Ông cũng thấy nương trại tôi rồi đấy. Tôi trả tiền sòng phẳng, nếu bản người ta chịu bán.
Ông Cương nhìn sang Cải. Cải gật đầu, chậm rãi.
– Bản cháu chưa bao giờ không bán giống cho người cần gieo.
Sáng hôm sau, đoàn tiêu xuống đèo, thêm một người. Khang Dực đi bộ sau xe, cây sào mới chặt vác trên vai, mặt vẫn còn hằm hằm như chưa nuốt được trận thua hôm qua. Cậu ta đi im lặng suốt một buổi, đến lúc xuống tới chỗ con đường thôi dốc, mới đi nhanh lên ngang hàng với Kiều.
– Cô không biết thật à? – cậu ta hỏi, không nhìn nàng.
– Biết gì?
– Hai ngón tay của ông nội cô. – Dực hất hàm về phía xe trước, nơi ông Cương ngồi cạnh chú Sún, lưng thẳng như cây cột. – Không ai chặt cả. Chính ông ta chặt. Ba mươi năm trước, trước mộ cha tôi, bằng con dao của cha tôi. Mẹ tôi kể ông ta không kêu một tiếng.
Kiều đi thêm mấy bước. Gió đèo thổi mạnh, lá cờ tiêu trên cọc tre phần phật như có ai đang giật.
– Vì sao?
Dực nhún vai.
– Thì hỏi ông ta. Mẹ tôi bảo, người nào tự chặt tay mình thì là vì cái tay ấy đã làm một việc mà miệng không dám kể.
— Hết chương 3 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe