Chương 6: Không còn hòn đá nào
Họ mở cả ba mươi bao ngay bên bờ suối.
Cải mở từng cái nút quai chèo bằng cách rút đúng một đầu dây, như anh đã dạy. Bao nào anh cũng bốc một nắm, bóc vỏ một hạt, cắn. Bao số một. Bao số mười. Bao số hai mươi ba. Hạt gạo nào cũng trong, ngả vàng và dẻo quánh dưới răng. Đến bao thứ mười bảy thì anh không cắn nữa. Anh chỉ ngồi đó, hai tay úp vào mặt.
– Thóc đồ, – anh nói qua kẽ tay. – Người ta mua Chiêm Đỏ ở miền xuôi, đem đồ chín lên rồi phơi khô. Hạt vẫn nguyên, vỏ vẫn vàng, râu vẫn đỏ. Chỉ có cái mầm bên trong là chín rồi. Thứ này nấu cơm thì ngon. Gieo thì mục.
Kiều trải một tấm chiếu xuống đất, xốc ngược bao số một lên, đổ hết ra. Bốn mươi cân thóc trải thành một đống vàng trên chiếu. Nàng lùa tay qua, từ trên xuống dưới, từng nắm một, đến khi thấy tấm chiếu. Rồi nàng đổ bao số hai. Rồi bao số ba.
Đến bao thứ năm thì Cải hiểu nàng đang tìm gì. Anh bỏ tay khỏi mặt.
– Không còn hòn nào, – Kiều nói. – Năm bao rồi. Không có hòn đá nào.
Cải đổ thêm năm bao nữa. Rồi mười bao. Ba mươi hòn đá suối Đỏ vân đỏ mà anh tự tay thả xuống đáy ba mươi bao ở kho bến Cá, giờ không còn một hòn.
– Họ không thay thóc trong bao, – ông Cương nói. Ông đứng sau lưng mọi người từ nãy giờ. – Họ đổ cả thóc ra, cả đá. Rồi đổ thóc đồ vào. Đá đi theo thóc thật.
– Ở Cổ Lũy, – Kiều nói. – Kho thuế. Một đêm.
– Nhưng nút còn nguyên. – Cải ngẩng lên. – Ba mươi cái nút quai chèo, cháu kiểm từng cái, còn nguyên.
Câu ấy rơi xuống giữa bờ suối như một hòn đá rơi xuống nước. Ai cũng biết nó có nghĩa là gì. Ở trong đoàn này, ngoài Cải, chỉ có một người biết buộc nút quai chèo.
Chú Sún từ từ quay đầu nhìn Dực. Dực đứng dựa vào thân cây lim, tay cầm sào. Cậu ta không nhúc nhích, nhưng Kiều thấy mấy ngón tay cậu ta siết lại trên thân sào.
– Nhìn tôi làm gì? – Dực nói. – Tôi không biết buộc cái nút ấy.
– Không ai bảo anh, – Kiều nói.
Nàng không quay sang Tảo. Nàng không cần quay. Nàng nghe tiếng cái gáo dừa rơi xuống đá, lăn lóc cóc mấy vòng.
Tảo quỳ xuống. Không phải quỳ trước ông Cương, cũng không phải trước Kiều. Nó quỳ trước Cải, trán chạm xuống tấm chiếu trải đầy thóc chết.
– Em. Là em buộc lại.
Không ai nói gì. Chỉ có tiếng suối.
Tảo kể, giọng đứt quãng như người vừa chạy xa về. Mẹ nó vay của tiệm cầm đồ Vĩnh Phát ở phố cảng mười tám quan từ mùa hè, để thuốc thang cho đứa em út bị sốt. Lãi chồng lãi. Tháng trước, tiệm cầm đồ đã cho người đến đòi siết cái quán nước chè, đòi cả gian nhà. Lá thư ở chợ Cổ Lũy là thư thật, mẹ nó nhờ người viết thật, nhưng người đưa thư thì không phải người quen của mẹ. Người ấy dắt nó vào ngõ sau hàng bánh đúc. Ở đó có Liêu quản sự.
– Hắn bảo tiệm Vĩnh Phát là chỗ quen của ông chủ hắn. Hắn bảo một lời của hắn là xóa nợ. – Tảo nói. – Hắn bảo em chỉ phải làm một việc nhỏ. Đêm ấy ra kho thuế, buộc lại mấy cái nút cho đẹp. Hắn bảo người của hắn chỉ mở ra lấy vài nắm về khám rầy cho nhanh, khỏi phải chờ ty Nông. Hắn bảo chẳng mất gì của ai.
– Mày tin thế à? – Dực nói, giọng khàn.
– Em… em muốn tin. – Tảo vẫn chưa ngẩng lên. – Người của hắn bảo cổng trước có ông ngồi nhìn suốt đêm, nên họ dắt em lội cái rãnh thoát nước sau kho. Em vào trong thì thấy họ có sáu người, có cả ông đề lại họ Mã cầm đèn. Họ không lấy vài nắm. Họ dốc ngược từng bao, đổ hết vào bao của họ. Rồi họ đổ từ mấy cái bao khác vào. Em hỏi, họ bảo cũng là thóc cả, có gì khác đâu. Em đứng đó, em… em buộc lại. Ba mươi cái. Hắn đứng cạnh, bảo em mà nói ra thì mẹ em ra đường ngay trong tháng Giêng.
Kiều siết cây côn đến mức các đốt ngón tay trắng bệch. Dực bước lên một bước. Ông Cương giơ tay ra chặn ngang ngực cậu ta. Bàn tay trái. Ba ngón.
– Thóc thật đi đâu? – ông hỏi.
– Họ chất lên sáu con ngựa thồ, đi ngay trong đêm. Đi đường quan lộ, về Cửa Hà. – Tảo nói. – Em nghe hắn bảo người của hắn: ông chủ sẽ mở phiên bán giống ở Cửa Hà ngày mười hai tháng Giêng. Bán Chiêm Đỏ thượng hạng từ miền xuôi lên.
Cải bật lên một tiếng cười. Tiếng cười khô và ngắn, nghe như tiếng ho.
– Bán cho ai? Bán cho mười hai bản. Giống của mười hai bản, mười hai bản góp tiền mua, rồi lại cầm ruộng mà mua lại.
Lúc ấy Kiều mới hiểu. Hầu Tích Phúc không cần đốt số thóc ấy, không cần đổ xuống sông. Ông ta chỉ cần nó đến Yên Biên trước đoàn tiêu, trong bao của ông ta. Đến rằm, mười hai bản sẽ thấy thóc của Cải gieo xuống không mọc. Tiền đã mất. Mùa đã sát. Họ sẽ không còn cách nào khác ngoài cầm ruộng mua giống của vựa Phúc Thái, chính thứ giống mà họ đã bán trâu, bán bạc để mua.
Không phải ông ta muốn bán giống. Ông ta muốn ruộng.
Họ ngồi bên suối rất lâu. Hai con bò đã uống no nước, gặm cỏ ven bờ. Tảo vẫn quỳ. Không ai bảo nó đứng dậy.
Cuối cùng ông Cương ngồi xuống cạnh nó, trên một hòn đá phẳng. Ông không nhìn nó. Ông nhìn bàn tay trái của mình.
– Ba mươi năm trước, – ông nói, – ông có một người anh em kết nghĩa tên Khang Văn Bảo. Hai anh em cùng cầm cờ một tiêu cục nhỏ ở Hòa Lãng, đi chuyến nào cũng đi cùng nhau.
Dực ngẩng phắt lên.
– Năm ấy nhận chuyến chở hai mươi kiện chè lên chợ Cổ Lũy cho một hiệu buôn. Đến ngày thứ năm thì có một người của hiệu buôn đối thủ tìm đến ông, đưa mười lạng bạc. Hắn chỉ nhờ ông làm chậm chuyến hàng một ngày. Một ngày thôi, để chè nhà hắn ra chợ trước. Hắn bảo chẳng mất gì của ai. Chè vẫn đến, chỉ đến muộn một ngày. Ông nghĩ thế cũng đúng. Ông nhận.
Ông dừng lại. Tiếng suối vẫn chảy.
– Ông làm cho con bò đi trước bị què chân. Thế là đoàn chậm một ngày. Để kịp hạn, hai anh em phải vượt đèo Ngựa Quỳ ban đêm, trong mưa. Hồi ấy trên đèo chưa có trại Khang, chỉ có một bọn cướp thật. Chúng chờ đúng đêm mưa. Anh Bảo đứng chắn trước ông, nhận một nhát dao, ngay chỗ này. – Ông chạm vào bên sườn trái. – Anh ấy chết trước khi trời sáng.
Dực đứng như trời trồng.
– Hai ngón tay này cầm mười lạng bạc. – Ông Cương nói. – Ông chặt chúng trước mộ anh ấy, bằng con dao của anh ấy, rồi thề không bao giờ qua đèo nữa. Mười lạng bạc ấy ông gửi cho chị Bảo. Rồi mỗi năm gửi thêm. Ba mươi năm.
Ông quay sang Tảo lần đầu tiên.
– Chẳng mất gì của ai. Ông cũng đã nghe câu ấy. Ông cũng đã tin, vì ông muốn tin. Mày không phải người đầu tiên, Tảo ạ. Cũng chẳng phải người cuối cùng.
Tảo khóc. Nó khóc như một đứa trẻ, không giấu, không lau.
– Ông đánh con đi. Ông đuổi con đi.
– Đuổi mày đi thì ai làm chứng chuyện đêm ở kho Cổ Lũy? – Ông Cương đứng dậy. – Ông không đánh mày. Ông cũng không tha mày. Tha hay không là việc của cậu Cải và mười hai bản.
Ông đi về phía cỗ xe, cầm lấy cái cọc tre cắm cờ, nhổ lên, rũ lá cờ cho thẳng, rồi cắm lại.
– Hợp đồng ghi chở ba mươi bao thóc giống Chiêm Đỏ của mười hai bản lên tới Yên Biên. Ba mươi bao giống ấy chưa tới Yên Biên. Nó đang ở trên đường quan lộ, đi ngựa. Mình đi đón nó.
– Còn chỗ thóc đồ này? – Kiều hỏi.
– Mang theo. Đổ xuống suối thì thành của cá. Mang đến Cửa Hà thì thành của quan.
Họ buộc lại ba mươi bao. Lần này Cải tự tay buộc. Tảo đứng nhìn, không dám chạm vào.
Hai đêm sau là đêm giao thừa.
Họ ở giữa rừng lim, cách bản gần nhất hai ngày đường. Không pháo, không bánh chưng, không cây nêu. Gạo đã ít, Kiều nấu một nồi cháo loãng với mấy cây rau rừng Dực hái được và một nhúm muối. Dực lục trong túi ra một miếng thịt hoẵng gác bếp bọc lá chuối, bà Khang dúi cho cậu ta trước khi đi. Cậu ta thái mỏng từng lát, chia đều cho mọi người. Đến bát của Tảo thì cậu ta ngừng tay một lúc. Rồi vẫn bỏ vào.
Cải đặt cái chậu sành bên đống lửa. Lớp mạ đầu tiên đã lên được lá thứ ba. Anh ngồi tưới cho nó từng ngụm nước phun, rồi nói, như nói với chậu mạ:
– Ở bản, giao thừa người ta không ngủ. Người ta ngồi canh bồ giống. Các già bảo năm mới đến thì đất thức dậy trước người, phải có người ngồi đó cho đất biết năm nay còn ai gieo.
Ông Cương ngồi đối diện, lặng lẽ ăn cháo. Kiều ngồi cạnh ông. Nàng muốn hỏi nhiều thứ, về anh Bảo, về đêm mưa trên đèo, về ba mươi gói bạc. Nàng không hỏi gì cả. Nàng chỉ ngồi sát vào ông thêm một chút, cho vai mình chạm vào vai ông.
Tảo ngồi xa nhất, ngoài rìa ánh lửa. Nó ăn hết bát cháo, rồi ngồi ôm gối nhìn vào bóng tối, nhìn về phía bắc, phía Cửa Hà.
Gần sáng thì Kiều ngủ thiếp đi.
Khi nàng thức dậy, sương muối phủ trắng mui xe, trắng cả ngọn cờ. Ông Cương đã dậy, đang đứng bên cỗ xe trước. Chú Sún đang buộc ách bò. Cải đang tưới chậu mạ.
Chỗ Tảo nằm chỉ còn cái áo bông của nàng, gấp vuông vức, đặt trên một hòn đá. Cây giáo của nó vẫn dựa vào bánh xe. Nó không mang theo gì, không cả cái chăn.
Trên thành xe, chỗ có lớp sương mỏng, ai đó đã dùng ngón tay vạch hai chữ to, nét nguệch ngoạc như chữ của đứa trẻ mới học:
Cửa Hà.
Dực nhìn hai chữ ấy, rồi nhổ xuống đất.
– Nó chạy rồi. Chạy về phía chủ nó.
Kiều không nói gì. Nàng nhặt cái áo bông lên. Nó lạnh ngắt. Nó đã nằm ở đó lâu lắm rồi, có lẽ từ trước canh tư. Nghĩa là thằng bé đã đi trước đoàn gần hai canh giờ, một mình, không gạo, không chăn, giữa rừng lim, trong sáng mồng một Tết.
— Hết chương 6 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe