AI Truyện
Chậu mạ trên xe tiêu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Ba mươi bao thóc không ai nhận chở

Chậu mạ trên xe tiêu · Chương 1/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 12 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 1: Ba mươi bao thóc không ai nhận chở

– Gỡ xuống. Gỡ cả hai cái đinh, đinh cũng là của nhà tôi.

Lão chủ nợ họ Tiền đứng giữa sân tiêu cục Thuận Phong, tay chống cây ô giấy dầu, mũi giày không dính một hạt bụi. Hai thằng làm công của lão bắc thang lên mái cổng. Tấm biển gỗ lim sơn chữ đã tróc, treo ở đó bốn mươi năm, rung lên từng nhịp theo tiếng búa nạy.

Úc Thanh Kiều đứng dưới chân thang, tay cầm cây côn gỗ táu, không nói gì. Nàng biết mình chỉ cần quét ngang một đường là hai cái chân thang bật ra khỏi nền gạch. Nàng cũng biết làm thế thì chiều nay ông nội phải lên nha môn phố cảng Hòa Lãng chuộc nàng về, và món nợ một trăm hai mươi quan sẽ thành một trăm năm mươi.

Ông nội nàng, Úc Thừa Cương, ngồi trên bậc thềm nhà chính, đang lau một lá cờ. Lá cờ tiêu màu vàng đất, giữa thêu con thuyền buồm bằng chỉ nâu, mép đã sờn ra thành tua. Ông lau bằng một miếng vải ướt, chậm như lau mặt cho người ốm. Bàn tay trái của ông chỉ còn ba ngón, ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa. Cả phố cảng gọi ông là Úc Ba Ngón, người già hơn thì gọi là Úc Một Lời, vì bốn mươi năm cầm cờ chưa trễ một chuyến nào.

– Lão Tiền, – ông nói, không ngẩng lên, – hạn trả nợ là hết tháng Chạp. Hôm nay mới mồng mười.

– Thì tôi gỡ trước cho đỡ một việc. – Lão Tiền cười. – Ông còn chuyến nào mà trả? Cả tháng nay không một đồng bạc nào bước qua cái cổng này. Tiêu cục Hưng Long bên kia sông nhận hết rồi.

Cái đinh thứ nhất bật ra. Tấm biển nghiêng hẳn về một bên, va vào cột kêu một tiếng khô.

Đúng lúc ấy có người đứng ở cổng, ngay dưới tấm biển đang treo lủng lẳng, không dám bước vào.

Đó là một người đàn ông chừng hai lăm tuổi, gầy, đen, mặc áo chàm ngắn của người miền ngược, chân đi giày cỏ. Hai bàn tay anh ta nứt nẻ, có những vết đỏ tím ở đốt ngón như người đã từng bị cóng. Trên lưng anh ta đeo một cái gùi mây, và trên miệng gùi là một cái chậu sành nhỏ, bọc rơm cẩn thận.

– Ở đây… có nhận chở hàng lên Yên Biên không ạ?

Anh ta nói giọng ngược, chữ nào cũng như có đá lăn bên trong. Thằng làm công trên thang phì cười.

– Yên Biên? Chở cái gì?

– Thóc giống ạ. Ba mươi bao.

Lão Tiền cười to đến mức cây ô rung lên.

– Thóc giống! Ông Úc, ông nghe chưa? Khách của ông tới rồi đấy.

Ông Cương đặt lá cờ xuống, lần đầu tiên ngẩng đầu lên.

– Vào đây. Đứng dưới cái biển sắp rơi làm gì.

Người khách tên là Bế Văn Cải, ở bản Suối Đỏ, phủ Yên Biên, cách Hòa Lãng chừng chín trăm dặm về phía bắc, qua ba con sông lớn và một cái đèo mà người phố cảng chỉ biết qua lời kể. Anh ngồi xuống bậc thềm, nhất định không ngồi ghế, uống hết bát nước chè xanh Kiều đưa trong một hơi, rồi kể.

Mùa thu vừa rồi, sau ba ngày mưa liền, một trận lũ quét đổ từ núi Cao Sơn xuống thung lũng Yên Biên. Nước rút đi để lại bùn và đá. Thóc trong kho các bản, thứ người ta để dành làm giống cho vụ chiêm, ngâm nước suốt năm ngày rồi nảy mầm ngay trong bồ, mục ra thành mùi chua. Mười hai bản trong thung lũng không còn đủ một thúng giống.

– Ở trên ấy có vựa thóc của ông Hầu, – Cải nói. – Ông ấy có giống. Nhưng ông ấy bán một đấu giống bằng giá năm đấu thóc ăn, không có tiền thì viết văn tự cầm ruộng. Các già bản bảo, cầm ruộng cho ông ấy rồi thì đời con đời cháu đi làm thuê trên ruộng nhà mình.

Mười hai bản góp nhau, bán trâu, bán bạc trang sức của các bà, được hai trăm mười quan. Họ cử Cải xuống miền xuôi mua giống Chiêm Đỏ, thứ lúa chịu được rét ở chân núi, chỉ người đồng bằng Hòa Lãng còn giữ. Cải đi bộ mất hai mươi sáu ngày. Anh đã mua đủ ba mươi bao, mỗi bao bốn mươi cân, đang gửi ở kho nhà một người đồng hương ở bến Cá. Tiền còn lại trong ruột tượng quấn quanh bụng chỉ đủ thuê người chở.

– Cháu hỏi Hưng Long rồi, hỏi Kim Bảo rồi, hỏi cả Phúc Mã. – Cải nói. – Họ đều bảo không đi.

– Vì xa? – Kiều hỏi.

– Vì có người tới nói với họ trước cháu, – Cải nói, mắt nhìn xuống bát nước. – Cháu đi tới đâu thì người ấy tới đó trước cháu một ngày.

Lão Tiền vẫn chưa đi. Lão đứng dựa vào cột cổng nghe hết, rồi nói bằng cái giọng của người không bao giờ phải mang vác gì:

– Ông Úc, tôi nói thật lòng. Chín trăm dặm, hạn rằm tháng Giêng, ba mươi lăm ngày, đi xe bò. Ông đi thì giữa đường ông chết, chết rồi tôi đòi nợ ai?

Ông Cương không trả lời lão. Ông hỏi Cải:

– Hạn rằm là hạn gì?

– Rằm tháng Giêng là ngày gieo mạ, ông ạ. Gieo muộn thì lúa trổ vào lúc gió lạnh đầu hè trên núi đổ xuống, hạt lép hết. Qua rằm mà giống chưa về thì năm nay coi như bỏ.

– Cậu còn bao nhiêu tiền?

Cải tháo cái ruột tượng ra, đổ lên bậc thềm. Tiền đồng xâu lẫn mấy nén bạc vụn. Kiều đếm. Ba mươi tám quan.

Một chuyến tiêu chín trăm dặm, giá thường ít nhất là một trăm năm mươi quan.

Lão Tiền lại cười, nhưng lần này không ai nhìn lão.

Chiều hôm ấy, khi lão chủ nợ đã về và tấm biển vẫn còn treo bằng một cái đinh, có một vị khách khác tới. Hắn đi kiệu nhỏ, mặc áo lụa màu tro, tóc chải bóng, xưng là Liêu quản sự của vựa thóc Phúc Thái phủ Yên Biên, xuống Hòa Lãng lo việc buôn. Hắn không đi thẳng vào chuyện. Hắn khen cây ngô đồng ngoài sân, khen chè, rồi mới đặt lên bàn một cái hộp gỗ nhỏ.

– Một trăm hai mươi quan, – hắn nói. – Đúng số nợ lão Tiền. Ông chủ tôi kính trọng tiêu cục Thuận Phong, không muốn nhìn cái biển bốn mươi năm bị gỡ xuống. Ông chủ tôi chỉ nhờ một việc nhỏ: chuyến thóc kia, ông đừng nhận.

– Chuyến thóc ấy có hại gì cho ông chủ cậu?

– Không hại gì cả. – Liêu cười rất hiền. – Thóc giống miền xuôi đem lên núi chưa chắc đã hợp đất. Nhỡ mười hai bản gieo xong lúa không lên thì tội nghiệp người ta. Ông chủ tôi có giống ngay tại chỗ, đã quen đất, ông ấy sẵn lòng cho vay.

– Cho vay bằng ruộng.

– Làm ăn thì phải có cái làm tin, ông Úc.

Ông Cương mở cái hộp gỗ ra, nhìn những nén bạc xếp ngay hàng, rồi đóng lại, đẩy về phía Liêu đúng bằng một gang tay.

– Cậu về nói với ông chủ cậu, tiêu cục Thuận Phong cảm ơn. Tiêu cục này còn treo biển thì còn nhận chuyến. Gỡ biển rồi thì không nhận nữa. Hôm nay biển vẫn còn một cái đinh.

Liêu không giận. Hắn cầm hộp lên, cúi chào đúng phép, ra đến cổng còn ngoái lại nhìn tấm biển một lúc, như người ước lượng cây gỗ ấy đem bán củi được mấy đồng.

Đêm ấy Kiều ngồi với ông nội dưới hiên, dưới ngọn đèn dầu lạc.

– Ông nhận với ba mươi tám quan, nhà mình lấy gì trả lão Tiền?

– Không trả được thì gỡ biển, – ông nói. – Nhưng gỡ sau khi đã giao hàng. Biển gỡ vì nghèo thì còn treo lại được. Biển gỡ vì sợ thì treo lại người ta cũng không nhìn.

– Mình chỉ có bốn người.

– Năm. Tính cả khách.

Bốn người của tiêu cục Thuận Phong, nói cho đúng, là thế này. Ông Cương sáu mươi hai tuổi. Kiều hai mươi tuổi, học côn của ông từ năm lên sáu. Chú Sún đánh xe bò, câm một nửa, chỉ nói được những chữ một tiếng. Và Ngô Văn Tảo, mười chín tuổi, nhanh mồm nhanh chân, nhận việc ở tiêu cục được hai năm, ăn nhiều hơn làm, nhưng cười thì cả sân sáng lên.

Tảo nghe tin nhận chuyến thì nhảy cẫng lên.

– Đi Yên Biên! Con nghe nói trên ấy tháng Giêng sương muối trắng như rắc bột, con chưa thấy bao giờ.

– Trên ấy tháng Giêng người ta chết rét, – Kiều nói.

– Thì chị cho em mượn cái áo bông của chị.

Sáng hôm sau, cả bốn người ra kho bến Cá nhận hàng. Ba mươi bao thóc giống xếp thành hai hàng sát vách, bao tải gai mới, căng tròn. Kiều chưa từng thấy ai đối xử với thóc như cách Cải đối xử với chỗ thóc ấy.

Trước khi buộc miệng bao, anh mở từng bao một, thọc tay xuống tận đáy, bốc lên một nắm, đưa lên mũi ngửi, rồi cắn một hạt giữa hai răng cửa, nghe tiếng vỏ trấu nứt. Thóc Chiêm Đỏ hạt thon, vỏ màu vàng sẫm, đầu hạt có một cái râu ngắn màu đỏ gạch như sợi chỉ. Anh thả nắm thóc về chỗ cũ. Rồi anh lấy trong túi vải đeo bên hông ra một hòn đá.

Hòn đá nhỏ bằng quả trứng chim cút, trắng đục, trên mặt có những đường vân đỏ mảnh như sợi chỉ máu. Anh thả nó vào bao, để nó trôi tuột xuống đáy giữa những hạt thóc.

– Cái gì thế? – Tảo hỏi.

– Đá suối Đỏ, – Cải nói. – Bản cháu có tục, giống lúa đi đâu về thì phải có hòn đá suối đi theo, để nó nhớ đường về nhà. Các già dặn thế.

Tảo bụm miệng cười. Kiều lườm nó. Cải không để ý, hoặc đã quen bị cười. Anh thả hòn đá thứ hai vào bao thứ hai, rồi thứ ba. Ba mươi bao, ba mươi hòn đá, anh đếm từ một cái túi vải đã được may sẵn ba mươi ngăn nhỏ.

Rồi anh buộc miệng bao. Kiều đã buộc hàng mười bốn năm, đủ kiểu nút của dân tiêu cục, nhưng cái nút này nàng chưa thấy. Sợi dây gai vòng qua cổ bao hai lần, gập lại thành hai cái quai giống quai chèo đò, lồng cái nọ vào cái kia rồi siết ngược, đầu dây giấu vào trong.

– Nút gì đây?

– Nút quai chèo, – Cải nói. – Người bản cháu buộc gùi lúa để lội suối. Nước kéo cũng không tuột. Mà muốn mở thì chỉ cần rút đúng một đầu. Người không biết thì cắt.

– Cắt thì sao?

– Thì người bản cháu nhìn là biết có ai mở rồi.

Cuối cùng, anh làm một việc mà đến cả chú Sún cũng ngừng tay đứng nhìn. Anh mở bao ngoài cùng, bốc ra một nắm thóc, đếm đúng một trăm hạt, gói vào một miếng vải ướt. Rồi anh tháo cái chậu sành trên miệng gùi ra. Trong chậu là đất, thứ đất màu nâu đỏ, mịn, người phố cảng chưa từng thấy.

– Đất bản cháu, – Cải nói. – Cháu mang theo từ lúc đi. Thóc này ủ ba đêm thì nứt nanh. Cháu gieo vào chậu, để đường xa có cái mà nhìn.

– Nhìn cái gì? – Tảo hỏi.

– Nhìn xem nó còn sống không.

Ông Cương đứng ở cửa kho từ lúc nào, hai tay chắp sau lưng.

– Cậu cứ ủ thế suốt dọc đường à?

– Dạ. Nắm này nứt nanh thì cháu gieo, rồi ủ nắm khác của bao khác, hết bao này đến bao kia. Ở bản cháu, người ta không tin cái gì mình không thấy nó mọc.

Ông Cương gật đầu, như vừa nghe một người đồng nghiệp nói về nghề của mình.

Họ chất hàng lên hai cỗ xe bò, mỗi cỗ mười lăm bao, phủ chiếu cói, chằng dây. Chú Sún buộc lá cờ tiêu lên cái cọc tre cắm đầu xe trước. Kiều đeo côn sau lưng. Tảo vác cây giáo ngắn mà nó chưa từng dùng lần nào ngoài lúc múa cho gái phố cảng xem. Cái chậu sành được đặt ở giữa hai hàng bao trên xe sau, chèn rơm bốn phía, như người ta đặt một bát hương.

Trước khi xe lăn bánh, Kiều trải tấm bản đồ đường đi lên mui xe, thứ bản đồ vẽ tay mà ông nội giữ trong rương bốn mươi năm. Từ Hòa Lãng đi lên, có hai đường. Đường quan lộ vòng qua phía đông, rộng, có trạm, có quán, dài thêm gần ba trăm dặm. Đường tắt cắt thẳng lên phía bắc, qua sông Lam Thủy, qua trấn Cổ Lũy, qua đèo Ngựa Quỳ.

– Ba mươi lăm ngày thì không đi vòng được, – Kiều nói. – Phải đi đường tắt.

– Ừ, – ông nói.

– Qua đèo Ngựa Quỳ.

Ông Cương không trả lời ngay. Kiều nhìn sang. Ông đang nhìn ngón tay mình đặt trên chỗ vẽ con đèo, một nét mực uốn như lưng con ngựa đang quỳ. Ba ngón tay của bàn tay trái. Nàng thấy chúng run, rất khẽ, cái run mà nàng chưa từng thấy ở ông, kể cả hôm lão Tiền đứng giữa sân sai người gỡ biển.

Hồi nhỏ Kiều đã hỏi về hai ngón tay ấy không biết bao nhiêu lần. Lần nào ông cũng chỉ nói: để quên ở đèo.

Nàng chưa bao giờ biết đó là đèo nào.

– Ông, – nàng nói nhỏ. – Đèo Ngựa Quỳ là chỗ ông để quên hai ngón tay phải không?

Ông Cương gấp tấm bản đồ lại, gấp rất cẩn thận theo những nếp gấp cũ, rồi bỏ vào ngực áo.

– Ba mươi năm trước, – ông nói, – ông thề không bao giờ đặt chân lên cái đèo ấy nữa.

Ông bước lên xe trước, ngồi xuống cạnh chú Sún, cầm lấy cái roi tre.

– Đi thôi. Lời thề ấy ông giữ ba mươi năm rồi. Lời hứa với cậu Cải thì mới có một ngày.

— Hết chương 1 —

Mục lục Chậu mạ trên xe tiêu

  1. 1Ba mươi bao thóc không ai nhận chở12 phút đọc
  2. 2Sợi dây ngang sông Lam Thủy10 phút đọc
  3. 3Hai ngón tay ở đèo Ngựa Quỳ11 phút đọc
  4. 4Một đêm trong kho thuế Cổ Lũy9 phút đọc
  5. 5Dốc Mười Tám Khúc10 phút đọc
  6. 6Không còn hòn đá nào10 phút đọc
  7. 7Mái kho nhà họ Hầu10 phút đọc
  8. 8Phiên bán giống ở đình Cửa Hà11 phút đọc
  9. 9Rằm tháng Giêng ở bản Suối Đỏ10 phút đọc

Về truyện này

Chậu mạ trên xe tiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →