Chương 8: Phiên bán giống ở đình Cửa Hà
Ba mươi bao thóc có dấu đỏ chữ Phúc Thái xếp thành ba hàng giữa sân đình Cửa Hà, cao ngang ngực người, phủ một tấm vải điều. Ai đi qua cũng ngoái nhìn. Ở đây chưa ai từng thấy người ta phủ vải điều lên bao thóc, như phủ lên mâm lễ.
Kiều bị giải vào sân đình lúc giờ Thìn, hai tay trói trước bụng, đi sau ông nội. Sau nàng là Dực, Tảo, chú Sún. Cải đi cuối cùng, hai tay không bị trói vì anh là khách hàng chứ không phải người của tiêu cục, nhưng có lính đi kèm hai bên. Anh ôm cái chậu sành trước ngực. Lính gác đêm qua đã định giật nó đi, anh nhất định không buông, cuối cùng viên đội phẩy tay bảo kệ, một chậu cỏ thì làm gì được ai.
Sân đình đông nghịt. Các già của mười hai bản ngồi thành từng cụm trên chiếu trải dưới mái hiên, mỗi người ôm một cái ống tre đựng văn tự. Sau lưng các già là đàn ông, đàn bà, trẻ con, áo chàm sẫm cả một góc sân. Kiều nhận ra người đàn ông tên Thắm của bản Khuổi Sim ngồi ở hàng đầu. Anh ta nhìn thấy Cải, nhổm người lên, rồi lại ngồi xuống.
Trên thềm đình, quan Tri phủ Yên Biên ngồi giữa, sau một cái án thư sơn đen. Ông họ Đỗ, chừng năm mươi tuổi, mặt dài, mắt có quầng thâm của người ngủ ít. Bên trái ông là Hầu Tích Phúc.
Kiều đã hình dung Hầu Tích Phúc là một lão nhà giàu béo tốt, đeo nhẫn vàng. Ông ta không phải thế. Ông ta gầy, mặc áo the đen giản dị, râu tỉa gọn, trước mặt đặt một cái bàn tính gỗ đã lên nước bóng. Ông ta trông giống một ông đồ dạy chữ hơn là một chủ vựa. Liêu quản sự đứng sau lưng ông ta, tay cầm một xấp giấy. Và xa hơn một chút, dựa vào cột hiên, là người áo xám.
– Phiên hôm nay có hai việc, – quan Tri phủ nói, giọng mệt nhưng rõ. – Việc thứ nhất là xử đơn của vựa Phúc Thái. Việc thứ hai là phiên bán giống, bổn quan chứng giá để bà con khỏi bị thiệt. Làm việc thứ nhất trước.
Liêu bước lên, đọc đơn. Đơn viết gọn và khéo, như mọi thứ khác của Liêu. Đoàn tiêu Thuận Phong đi đường tắt qua đèo Ngựa Quỳ, chứa trong đoàn một tên con trai của chủ trại đèo, nơi mà dân buôn vẫn gọi là trại cướp. Đêm mồng chín, một người trong đoàn trèo vào vựa Phúc Thái trộm thóc, bị bắt quả tang. Cũng đêm ấy, người của đoàn trèo tường cướp kẻ trộm đi, phá ngói kho, làm bị thương người gác.
– Người gác nào bị thương? – ông Cương hỏi.
– Bị ngói rơi trúng chân, – Liêu đáp, không nhìn ông.
Quan Tri phủ quay sang ông Cương.
– Lão là chủ đoàn. Lão nói gì?
Ông Cương bước lên một bước. Lính định giữ lại, quan phẩy tay cho ông bước.
– Bẩm quan, chuyện thằng nhỏ vào vựa là thật. Chuyện người của tiêu cục trèo mái cứu nó ra cũng thật. Lão không chối. Nhưng xin quan cho lão nói chuyện vì sao nó vào vựa trước, rồi quan xử một lần cả hai việc.
Hầu Tích Phúc lần đầu tiên lên tiếng. Giọng ông ta trầm, ôn tồn, như một người lớn nói với trẻ con.
– Bẩm quan, đã nhận là trèo tường thì còn gì phải nghe.
– Nghe một chút cũng chẳng mất gì, – quan Tri phủ nói. – Lão nói đi.
Ông Cương kể. Ông kể từ cái ngày Cải đến cổng tiêu cục Thuận Phong ở phố cảng Hòa Lãng, với ba mươi tám quan và ba mươi bao thóc. Ông kể chuyện Liêu đặt hộp bạc lên bàn, chuyện dây chão đứt giữa sông Lam Thủy, chuyện một đêm hàng nằm trong kho thuế Cổ Lũy. Ông không kể chuyện đèo Ngựa Quỳ. Ông kể gọn, không thêm chữ nào, như người đọc lại một tờ hợp đồng.
Rồi ông bảo chú Sún mở tấm chiếu phủ trên hai cỗ xe tiêu, đã bị lính dắt vào đỗ ở góc sân từ hôm qua.
– Đây là ba mươi bao thóc đoàn của lão chở từ Cổ Lũy lên. Cậu Cải, cậu mở cho quan xem.
Cải đặt chậu mạ xuống đất, rút một cái nút quai chèo, bốc một nắm thóc, bước lên thềm đình. Anh quỳ xuống trước án thư, bóc vỏ một hạt, đặt hạt gạo vàng trong lên mặt án.
– Bẩm quan, quan cắn thử.
Quan Tri phủ nhìn anh một lúc, rồi nhặt hạt gạo lên, bỏ vào miệng. Ông nhai, nhíu mày.
– Gạo chín.
– Thóc đồ, bẩm quan. Đồ chín rồi phơi lại. Gieo xuống không mọc.
Một tiếng xôn xao chạy khắp sân đình. Các già mười hai bản nhìn nhau.
Hầu Tích Phúc thở dài, lắc đầu, vẻ thương hại.
– Bẩm quan, thật tội nghiệp cho cậu Cải. Người miền núi xuống xuôi không biết đường buôn bán, bị người ta bán cho thóc đồ mà không biết. Giờ về không ăn nói được với bản, lại đổ cho vựa tôi. – Ông ta quay sang Liêu. – Đưa quan xem giấy.
Liêu dâng lên một xấp giấy. Văn tự mua ba mươi bao Chiêm Đỏ của một hiệu thóc ở Hòa Lãng, đề ngày mồng năm tháng Mười một, có chữ ký, có dấu.
– Thóc của vựa tôi mua từ tháng Mười một, chở lên bằng ngựa thồ theo đường quan lộ. – Hầu nói. – Sổ trạm dọc đường đều có ghi.
Quan Tri phủ lật xem từng tờ. Kiều thấy vai ông chùng xuống. Giấy tờ đủ cả. Còn bên này chỉ có lời một ông già sáu mươi hai tuổi và một chậu cỏ.
– Bẩm quan, – Tảo nói. Giọng nó run, nhưng to. – Con xin khai.
Nó kể chuyện đêm ở kho thuế Cổ Lũy. Kể cái rãnh thoát nước sau kho, ông đề lại họ Mã cầm đèn, sáu người đàn ông đổ thóc từ bao này sang bao kia. Kể chính tay nó buộc lại ba mươi cái nút. Kể Liêu đứng bên cạnh.
Liêu không đổi sắc mặt.
– Bẩm quan, một thằng ăn trộm bị bắt quả tang trong vựa. Nó nói gì mà chẳng được.
Quan Tri phủ gật đầu, rất chậm. Kiều biết cái gật đầu ấy. Đó là cái gật đầu của người đã quyết.
– Bẩm quan, – ông Cương nói, – lão chỉ xin một việc. Xin quan cho đổ ba mươi bao có dấu Phúc Thái kia ra chiếu.
– Đổ ra làm gì?
– Lão không nói trước. Đổ ra thì quan tự thấy.
Hầu Tích Phúc lần đầu tiên nhíu mày.
– Bẩm quan, thóc giống đổ ra giữa sân, sương đọng, đất bẩn, lẫn sỏi lẫn cát. Mai kia bán cho bà con mà không mọc thì ai chịu? Vựa tôi không đồng ý.
– Thế thì đổ ra chiếu, – quan Tri phủ nói. – Đổ ba bao, chọn bất kỳ.
– Ba mươi bao, bẩm quan, – ông Cương nói. – Ba bao thì không đủ.
Liêu cúi xuống thì thầm vào tai Hầu. Hầu ngồi im một lúc. Rồi ông ta làm một việc mà Kiều về sau nhớ mãi: ông ta khẽ hất hàm về phía mấy người làm của vựa đứng ở góc sân, những người đã khiêng bao vào từ sáng.
Sáu người bước ra, cúi xuống, bắt đầu nhấc những bao thóc trên cùng lên vai.
– Bẩm quan, sương còn đọng, vựa tôi xin mang thóc vào trong đình cho khỏi ẩm. – Liêu nói, rất nhanh.
Kiều không chờ ai ra lệnh. Lính đã cởi trói cho nàng từ lúc nàng phải giúp chú Sún dỡ chiếu trên xe tiêu. Nàng chụp lấy cây côn bị cắt cụt đầu đang dựng ở góc sân cùng với đồ của đoàn, nhảy một bước dài, đứng chắn trước hàng bao.
Người làm đầu tiên đã nhấc được một bao lên vai. Kiều không đánh vào người. Nàng đánh vào cái bao. Đầu côn cụt thúc mạnh vào mép bao, bao thóc bốn mươi cân lệch khỏi vai hắn, rơi bịch xuống chiếu. Người thứ hai giơ tay định gạt nàng ra. Dực đã ở đó, trói tay hay không cũng chẳng quan trọng, cậu ta lấy cả vai mình húc vào hắn, đẩy hắn ngã ngồi vào đống bao.
– Dừng tay! – quan Tri phủ quát.
Tất cả đứng im. Sáu người làm của vựa Phúc Thái, bao thóc trên vai, nhìn về phía Hầu Tích Phúc. Cả sân đình nhìn về phía Hầu Tích Phúc.
Quan Tri phủ đứng dậy.
– Bổn quan chưa cho phép, vựa nào dám dời tang vật? – Ông nhìn Hầu một lúc lâu. – Lính đâu. Đổ cả ba mươi bao ra chiếu. Ngay bây giờ.
Hầu Tích Phúc quay đầu nhìn về phía cột hiên. Người áo xám vẫn đứng đó, tay khoanh, kiếm vẫn trong vỏ.
– Ngươi còn đứng đấy à? – Hầu nói, rất khẽ, nhưng Kiều đứng gần, nàng nghe rõ.
Người áo xám bước tới. Kiều siết côn. Nhưng hắn không đi về phía nàng. Hắn đi về phía án thư của Hầu, rút trong ngực áo ra một cái túi vải nặng, đặt lên mặt bàn, cạnh cái bàn tính gỗ.
– Ông trả tôi để chặn đường, – hắn nói. – Đường hết rồi. Ông chưa trả tôi để rút kiếm trước mặt quan. Mà có trả thì tôi cũng không nhận.
Hắn cúi chào quan Tri phủ một cái, đúng phép, rồi quay lưng đi ra cổng đình. Không ai cản. Đi ngang qua Kiều, hắn liếc xuống cây côn cụt đầu trong tay nàng, gật một cái rất khẽ.
Lính bắt đầu đổ bao.
Bao thứ nhất đổ ra chiếu thành một đống vàng sẫm. Một người lính lùa tay vào cho tơi. Không có gì. Kiều thấy tim mình như ngừng đập. Bao thứ hai. Bao thứ ba. Người lính lùa tay vào bao thứ ba, rồi dừng lại, cầm lên một vật nhỏ, giơ ra ánh sáng.
Một hòn đá trắng đục, to bằng quả trứng chim cút, vân đỏ như sợi chỉ máu.
Lính đổ tiếp. Bao thứ năm có. Bao thứ bảy có. Bao thứ nhất, lùa lại kỹ hơn, thì có, nó nằm lẫn ở đáy đống thóc. Đến khi bao thứ ba mươi đổ xong, trên mặt án thư của quan Tri phủ có ba mươi hòn đá xếp thành sáu hàng, mỗi hàng năm hòn.
Cả sân đình im phăng phắc. Rồi từ trong đám áo chàm, một ông già chống gậy đứng dậy. Ông già bản Suối Đỏ. Ông chậm rãi đi lên thềm đình, chẳng ai ngăn. Ông nhặt một hòn đá trên án thư lên, đưa sát mắt, rồi đưa lên miệng, liếm, như người bản vẫn liếm đá suối để xem vân.
– Đá suối Đỏ, – ông nói bằng giọng khàn. – Suối Đỏ chỉ có một khúc nửa dặm, ở đầu bản tôi. Ông Hầu, ông chưa bao giờ lên bản tôi, ông lấy đâu ra ba mươi hòn đá này?
Hầu Tích Phúc mở miệng. Ông ta định nói gì đó, nhưng quan Tri phủ đã giơ tay.
– Người bán thóc giống, – quan nói, – có ai bỏ vào mỗi bao một hòn đá suối của miền núi cách đây hai ngày đường không? Bỏ đá vào bao thóc để bán, là cân điêu. Bỏ đúng một hòn mỗi bao, ba mươi bao ba mươi hòn, là có người đếm. Người đếm ấy không phải ông.
Ông ngồi xuống, cầm bút lên.
– Ba mươi bao giống này trả về cho mười hai bản thung lũng Yên Biên, theo lời khai của khách hàng Bế Văn Cải. Chủ vựa Hầu Tích Phúc và quản sự họ Liêu tạm giam, chờ người của phủ xuống Cổ Lũy bắt đề lại họ Mã về đối chất. Phiên bán giống hôm nay, – ông dừng bút một nhịp, – không mở.
Tiếng reo nổ ra ở góc sân đình, nơi các già mười hai bản ngồi. Có người khóc. Có người đập ống tre đựng văn tự xuống chiếu, như đập cái mõ báo hết lụt.
Kiều quay lại tìm Cải. Anh không reo. Anh đã quỳ xuống bên đống thóc của bao thứ nhất, bốc một nắm, đưa lên mũi ngửi, rồi cắn một hạt. Có tiếng nứt giòn.
Rồi anh làm cái việc anh đã làm suốt dọc đường. Anh đếm một trăm hạt, gói vào miếng vải ướt.
– Còn sống không? – Kiều hỏi.
– Cháu không biết, – Cải nói. – Nửa tháng nằm trong bao, trên lưng ngựa, đi đêm qua sương muối, rồi nằm trong kho. Thóc giống mà bị sương rồi ủ hơi thì có khi chết từ bên trong mà vỏ vẫn đẹp.
– Bao giờ mới biết?
Anh ngẩng lên nhìn nàng.
– Ba đêm. Ba đêm nữa là rằm.
— Hết chương 8 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe