AI Truyện
Chậu mạ trên xe tiêu

🏯 Cổ đại & cung đấu

Một đêm trong kho thuế Cổ Lũy

Chậu mạ trên xe tiêu · Chương 4/9 · Sáng tác: AI Truyện

📖 9 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 4: Một đêm trong kho thuế Cổ Lũy

Lá thư đến tay Tảo ở giữa chợ Cổ Lũy, kẹp giữa hai cái bánh đúc nóng.

Kiều nhìn thấy cảnh ấy từ hàng bán nón bên kia đường. Một người đàn ông lạ, đội nón lá rách vành, đứng cạnh Tảo ở sạp bánh đúc, mua hai cái, trả tiền cho cả hai, rồi đưa một cái cho nó cùng với một mảnh giấy gấp tư. Tảo cầm lấy, ngơ ngác. Người kia nói gì đó rất ngắn rồi lẫn vào đám đông.

Trấn Cổ Lũy nằm ở chỗ con đường từ đèo xuống gặp con sông Nậm Pha, là chợ lớn cuối cùng trước khi vào đất phủ Yên Biên. Chợ họp mỗi ngày, ồn như một tổ ong bị chọc. Người miền xuôi lên bán muối, vải, nồi đồng. Người miền ngược xuống bán quế, sa nhân, mật ong, da hoẵng. Hàng bánh đúc nóng chấm tương bán hai đồng một bát, hàng cháo ngô nấu với xương lợn bán ba đồng. Mùi khói bếp, mùi phân ngựa, mùi quế khô trộn vào nhau thành một thứ mùi riêng mà Kiều về sau nhớ mãi.

Khi nàng sang được tới nơi, Tảo đã ăn xong cái bánh, lá thư đã nằm trong ngực áo nó.

– Ai thế?

– Người ở Hòa Lãng lên buôn, chị. – Tảo nói nhanh. – Người quen của mẹ em. Mẹ em gửi thư.

– Mẹ em biết chữ à?

– Mẹ em nhờ người viết. – Nó cười, nhưng cái cười hôm nay không sáng lên được như mọi khi. – Mẹ em khỏe. Mẹ em dặn em ăn mặc cho ấm.

Kiều không hỏi thêm. Mẹ Tảo bán nước chè ở đầu chợ Cũ phố cảng, góa chồng, nuôi ba đứa con, nghèo nhưng thẳng tính. Nàng nhớ có lần bà mang lên tiêu cục một rổ khoai lang để cảm ơn ông Cương đã nhận thằng con lêu lổng của bà vào làm. Một người như thế gửi thư lên tận Cổ Lũy chỉ để dặn con ăn mặc cho ấm thì cũng chẳng có gì lạ.

Cái lạ đến vào buổi chiều, ở trạm thuế.

Trạm thuế Cổ Lũy là một dãy nhà gạch nằm ngay đầu cầu sông Nậm Pha, có cổng gỗ, có hai người lính cầm giáo đứng gác, có một cái kho lớn tường đất nện dày gần một sải tay. Hàng hóa từ miền xuôi muốn vào đất Yên Biên đều phải qua đây khai thuế.

Viên đề lại giữ trạm họ Mã, một người đàn ông béo, da trắng, ngón tay đeo nhẫn đồng. Ông ta đọc tờ khai của ông Cương, rồi gõ gõ ngón tay lên chữ thóc.

– Thóc giống ngoài phủ đem vào thì phải khám, – ông ta nói. – Lệnh quan Tri phủ Yên Biên từ sau trận lũ. Thóc ngoài vào mà có rầy, có mốc, đem gieo ra lây cả thung lũng thì ai chịu?

– Khám thì khám ngay bây giờ, – ông Cương nói.

– Trời sắp tối, người khám phải là người của ty Nông, mai mới lên. – Ông ta đóng sổ lại. – Hàng để trong kho trạm một đêm. Sáng mai khám xong thì đi.

– Hàng của tiêu cục thì người tiêu cục ở cạnh hàng. Đấy là lệ.

– Lệ của các ông ở phố cảng. – Viên đề lại cười nhạt. – Ở đây là trạm thuế của nhà nước. Kho nhà nước thì lính nhà nước canh. Ông không tin lính nhà nước à?

Ông Cương im lặng một lúc. Kiều biết ông đang cân. Cãi thì có thể bị giữ thêm ba ngày với tội cản trở việc công. Không cãi thì phải để hàng xa tay một đêm.

– Cho tôi xem tờ lệnh của quan Tri phủ.

Viên đề lại không ngờ câu ấy. Ông ta lục một lúc trong ngăn bàn, rồi rút ra một tờ giấy có đóng dấu son. Ông Cương đọc kỹ từng dòng, đọc hai lần. Tờ lệnh là thật. Nó nói đúng như viên đề lại nói, thóc giống từ ngoài vào phủ phải được khám rầy mốc. Nó không nói gì đến việc phải giữ qua đêm.

– Được, – ông Cương nói, trả lại tờ lệnh. – Hàng để đây một đêm. Nhưng tôi xin được buộc bao theo cách của khách hàng, và sáng mai chính tay khách hàng mở ra cho người của ty Nông khám.

– Tùy ông.

Họ khiêng ba mươi bao thóc vào kho. Cải kiểm lại từng cái nút quai chèo, từng bao một, siết lại những cái hơi lỏng. Kiều thấy anh lấy một mẩu than, đánh số lên vai từng bao, từ một đến ba mươi, nét số kiểu người bản, tròn và nghiêng. Cái chậu sành thì anh nhất định không để lại. Anh ôm nó về quán trọ.

Quán trọ ở ngay bên kia đường, cách cổng trạm chừng năm mươi bước, có một cái gác xép trông thẳng sang mái kho. Đêm ấy ông Cương ngồi bên cửa sổ gác xép, không nằm. Chú Sún nằm dưới chân cầu thang. Dực thì không chịu ngủ trong nhà, nói người trại ngủ trong nhà người lạ thì ngạt thở, ra ngủ ở chuồng ngựa sau quán, ôm cây sào.

Tảo đi nằm sớm nhất. Nó bảo hôm nay lạnh, nó mệt.

Kiều nằm trên chiếu, nghe tiếng mõ cầm canh của lính trạm bên kia đường. Canh một. Canh hai. Nàng không ngủ được. Nàng nghĩ đến hai ngón tay của ông nội, đến câu của Dực trên đường xuống đèo. Nàng đã định hỏi ông, mấy lần rồi, mà không hỏi được. Ông ngồi bên cửa sổ, cái lưng thẳng, cái bóng in lên vách bởi ánh đuốc của trạm thuế hắt sang, giống như một cái cọc người ta đóng xuống ở bờ sông cho thuyền buộc.

Nàng thiếp đi lúc nào không biết.

Khi nàng mở mắt thì đuốc bên trạm đã tắt bớt, mõ đã sang canh tư. Có tiếng cửa sau kẹt khẽ. Nàng nằm im, nghe. Một bước chân, rất nhẹ, đi ngang qua chỗ chú Sún, lên cầu thang, mỗi bậc dừng một chút như người sợ gỗ kêu.

Tảo. Nó đi về chỗ nằm, kéo chăn lên. Trong bóng tối, Kiều ngửi thấy một mùi lạ. Mùi bùn. Mùi nước đọng lâu ngày.

– Đi đâu thế? – nàng hỏi khẽ.

Tảo giật mình như bị ai châm kim.

– Em… em đi nhà xí, chị.

– Nhà xí ở đâu mà có bùn?

– Trời tối, em đạp phải cái rãnh. – Nó nói, rồi cười gượng. – Ướt đến tận khuỷu tay. Lạnh chết đi được.

Nàng đưa tay sờ thử. Tay áo nó ướt sũng thật, ướt từ cổ tay lên quá khuỷu, lạnh như đá. Người ta đạp phải rãnh thì ướt chân. Muốn ướt đến khuỷu tay thì phải chống cả hai tay xuống. Nàng nghĩ, có lẽ nó ngã. Nó vẫn hậu đậu như thế.

– Thay áo đi rồi ngủ. Ốm ra thì chị không cõng đâu.

Sáng hôm sau, người của ty Nông đến muộn gần một canh giờ. Đó là một ông già gầy gò, mắt kèm nhèm, khám qua loa, mở đúng ba bao, bốc mỗi bao một nắm, nhìn, ngửi, lắc đầu, rồi bảo không có rầy. Viên đề lại họ Mã đóng dấu vào tờ khai, thu thuế ba quan, không hỏi thêm câu nào. Ông ta có vẻ vội đi đâu đó.

Cải kiểm lại ba mươi cái nút. Kiều đứng cạnh anh. Ba bao ông già ty Nông mở ra thì Cải buộc lại. Hai mươi bảy bao còn lại, nút quai chèo vẫn nguyên như anh buộc chiều qua: hai vòng, hai quai, siết ngược, đầu dây giấu vào trong.

– Nguyên cả, – anh nói, thở ra một hơi dài. – Cháu cứ sợ họ cắt.

– Kho nhà nước, ai dám, – Tảo nói. Nó đang giúp chú Sún khiêng bao lên xe, mặt hớn hở như mọi ngày, có khi còn hớn hở hơn.

Đoàn tiêu ra khỏi Cổ Lũy trước giờ Tỵ. Từ đây đến Cửa Hà, thị trấn đầu tiên của phủ Yên Biên, còn chừng mười lăm ngày đường, qua dốc Mười Tám Khúc và cánh rừng lim già. Hôm nay là ngày hai mươi lăm tháng Chạp. Còn hai mươi ngày nữa là rằm tháng Giêng.

Đêm ấy họ cắm trại bên một con suối cạn. Cải lại làm việc của anh. Miếng vải ướt gói thóc lấy ra ba đêm trước ở bao thứ sáu đã nứt nanh lốm đốm, anh gieo xuống chậu. Lớp mạ đầu tiên gieo từ đêm sông Lam Thủy đã lên được hai lá, xanh non như sợi chỉ, mọc dày trên lớp đất đỏ. Tảo cúi xuống chậu, hà hơi vào cho ấm, như người ta hà hơi vào tay một đứa trẻ.

– Anh Cải, cây mạ này mà mọc tới Yên Biên thì cao chừng nào?

– Bằng gang tay. Vừa đúng để nhổ đem cấy.

Rồi Cải mở cái bao thứ bảy, cái bao có số bảy bằng than trên vai, cởi nút quai chèo, bốc một nắm thóc, đếm một trăm hạt, gói vào miếng vải ướt.

Kiều ngồi canh lửa phiên đầu. Dực đến ngồi cạnh nàng, chìa hai bàn tay ra hơ. Cậu ta ngồi im một lúc lâu, cái kiểu im của người còn đang nghĩ có nên nói hay không.

– Hôm qua ở chợ, – cậu ta nói, – thằng nhỏ của các người nói chuyện với một người mặc áo lụa màu tro. Trong ngõ sau hàng bánh đúc.

Kiều không quay sang.

– Người buôn ở Hòa Lãng lên. Quen mẹ nó.

– Người buôn mà có hai đứa đầy tớ đứng canh đầu ngõ. – Dực nói. – Rồi đêm qua nó ra khỏi quán lúc canh ba. Tôi nằm ở chuồng ngựa, tôi thấy. Nhà xí ở sau quán, bên trái. Nó không rẽ trái. Nó đi thẳng ra đường, đi về phía trạm thuế.

Bây giờ Kiều mới quay sang. Dưới ánh lửa, mặt Dực không có vẻ gì là đang bày trò. Cậu ta nhìn thẳng vào nàng, đôi lông mày rậm nhíu lại.

– Anh theo đoàn được mười ngày, – nàng nói chậm rãi. – Thằng Tảo theo tiêu cục nhà tôi hai năm. Mười ngày trước nó nhảy xuống sông Lam Thủy giữa tháng Chạp để vớt một bao thóc không phải của nó.

– Tôi chỉ nói tôi thấy gì.

– Thì tôi cũng chỉ nói tôi biết gì.

Dực nhún vai, đứng dậy, ra nằm dưới gầm xe với cây sào của cậu ta. Kiều ngồi lại một mình bên đống lửa.

Cách đó mấy bước, Tảo đang ngủ, cuộn tròn trong cái áo bông của nàng, ngáy khe khẽ. Một bàn tay nó thò ra ngoài chăn. Kiều nhìn bàn tay ấy rất lâu. Bàn tay mà Cải đã khen ở bến sông Lam Thủy, cái hôm anh cầm tay nó chỉ từng vòng dây. Bàn tay khéo nhất đoàn. Bàn tay duy nhất trong đoàn, ngoài Cải, biết buộc một cái nút quai chèo cho đúng.

— Hết chương 4 —

Mục lục Chậu mạ trên xe tiêu

  1. 1Ba mươi bao thóc không ai nhận chở12 phút đọc
  2. 2Sợi dây ngang sông Lam Thủy10 phút đọc
  3. 3Hai ngón tay ở đèo Ngựa Quỳ11 phút đọc
  4. 4Một đêm trong kho thuế Cổ Lũy9 phút đọc
  5. 5Dốc Mười Tám Khúc10 phút đọc
  6. 6Không còn hòn đá nào10 phút đọc
  7. 7Mái kho nhà họ Hầu10 phút đọc
  8. 8Phiên bán giống ở đình Cửa Hà11 phút đọc
  9. 9Rằm tháng Giêng ở bản Suối Đỏ10 phút đọc

Về truyện này

Chậu mạ trên xe tiêu là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Yến của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →