Chương 2: Sợi dây ngang sông Lam Thủy
– Bao rồi. Ba ngày tới đò lớn đò nhỏ bến này có người bao hết rồi, cô ạ.
Ông chủ bến đò Lam Thủy nói câu ấy mà mắt nhìn đi chỗ khác, nhìn đàn vịt đang lội dưới bãi bồi, nhìn đám mây xám trên núi, nhìn mọi thứ trừ Kiều.
– Ai bao?
– Khách buôn.
– Khách buôn nào mà bao đò ba ngày không đi?
– Thì người ta có tiền, người ta thích bao để đấy. – Ông ta gãi đầu. – Cô đi ngược lên mười dặm nữa có bến Ghềnh, may ra.
Mười dặm ngược lên là thêm một ngày, mà ở bến Ghềnh, Kiều đoán, cũng sẽ có người đến bao đò trước nàng một ngày. Nàng quay về chỗ hai cỗ xe đỗ dưới gốc gạo. Ông nội đang ngồi trên càng xe, nhai một miếng trầu không có vôi, thứ ông vẫn nhai khi nghĩ việc.
– Liêu, – ông nói, chưa cần nghe nàng kể.
– Hắn đi trước mình.
– Hắn đi kiệu, đi ngựa, đi đường quan. Mình đi xe bò. – Ông nhổ bã trầu. – Hắn không cần chặn mình ở đâu xa. Hắn chỉ cần mình trễ.
Sông Lam Thủy mùa này cạn, nhưng vẫn rộng hơn hai trăm bước, nước xanh đục, chảy xiết ở giữa dòng. Không có cầu. Người phố cảng vẫn nói đùa rằng muốn qua Lam Thủy thì hoặc có tiền, hoặc có cánh.
Chính chú Sún là người tìm ra lối thứ ba. Chú đi dọc bờ một lúc, rồi quay về, kéo tay áo Kiều, chỉ xuống phía hạ lưu, nói hai tiếng:
– Bè. Dây.
Cách bến chính chừng nửa dặm, ở chỗ sông thắt lại giữa hai mỏm đá, có một sợi dây chão to bằng cổ tay căng ngang mặt nước. Một đầu dây buộc vào gốc cây sung già bên này, đầu kia khuất trong bụi lau bờ bên kia. Dưới sợi dây là một cái bè tre lớn, kết bằng hai lớp cây luồng, trên bè có một cái lều nhỏ lợp lá cọ. Một bà già đang ngồi vá lưới trước lều.
Bà già có một vết sẹo dài từ khóe mắt trái xuống cằm, làm nửa mặt bà như đang nheo cười. Người quanh đây gọi bà là bà Thẹo.
– Qua sông à? – bà hỏi, không ngẩng lên. – Bao nhiêu xe?
– Hai xe bò, ba mươi bao thóc, năm người.
– Năm chuyến. Mỗi chuyến hai tiền.
Kiều đứng im một lúc.
– Bà không sợ có người bao đò trước à?
Bà Thẹo cắn đứt sợi gai, cười, nửa mặt có sẹo cười trước nửa kia.
– Hôm qua có người đến bao. Trả gấp mười. Tôi bảo bè tôi không bán chỗ cho người không đi. Người ta muốn đi thì tôi chở, người ta muốn ngồi trên bờ thì tự mà ngồi.
Họ tháo bao, chất lên bè từng đợt. Chuyến thứ nhất chở cỗ xe trước đã tháo bánh, chuyến thứ hai chở mười lăm bao thóc, hai con bò thì chú Sún dắt cho bơi theo. Cái bè đi chậm. Bà Thẹo đứng ở đầu bè, hai tay nắm cái móc gỗ mắc vào dây chão, kéo từng sải một, bè trượt theo sợi dây ngang dòng nước như con nhện bò trên tơ. Mỗi chuyến mất gần nửa canh giờ.
Trong lúc chờ, Tảo ngồi xổm cạnh Cải trên bãi đá, nhìn anh buộc lại mấy cái bao vừa xốc từ xe xuống.
– Anh Cải, dạy em cái nút ấy đi.
– Nút quai chèo à?
– Dạ. Em học cái nút ấy về buộc giỏ quà cho con gái nhà bán bánh đa ở phố Chợ Cũ, cô ấy mở không ra, phải nhờ em, thế là có chuyện để nói.
Cải cười, lần đầu tiên từ lúc xuống núi Kiều thấy anh cười. Anh cầm tay Tảo, chỉ từng vòng. Vòng thứ nhất qua cổ bao, vòng thứ hai đè lên, gập lại thành quai, lồng, siết ngược, giấu đầu dây. Tảo làm sai bốn lần, đến lần thứ năm thì được. Nó buộc thử thêm ba cái bao nữa, cái nào cũng đẹp hơn cái trước.
– Tay nó khéo, – Cải nói với Kiều. – Tay khéo thế này mà đi cầm giáo thì phí.
– Nó cầm giáo cũng có đâm ai đâu, – Kiều nói.
Tảo nhe răng cười, rồi lại cúi xuống, buộc đi buộc lại cái nút như một đứa trẻ có đồ chơi mới.
Chuyến thứ tư là chuyến cuối có hàng. Cỗ xe sau, mười lăm bao thóc còn lại, cái chậu sành. Kiều, Tảo, Cải lên bè cùng bà Thẹo. Ông Cương và chú Sún đã sang bờ bên kia từ chuyến trước, đang lắp lại bánh xe.
Bè ra tới giữa dòng thì Kiều nhìn thấy chiếc thuyền.
Đó là một chiếc thuyền nan nhỏ, sơn đen, có hai người, từ chỗ khuất sau mỏm đá phía thượng lưu thả trôi xuống. Hai người ấy không chèo. Họ chỉ ngồi, để dòng nước đưa đi, như người đi câu. Nhưng không ai đi câu ở giữa dòng nước xiết, và không ai đi câu mà không mang cần.
– Bà Thẹo, – Kiều nói.
– Thấy rồi. – Bà không ngừng kéo. – Cô cầm cái gậy của cô cho chắc vào.
Chiếc thuyền trôi sát lại. Một người đứng dậy, trong tay có một con dao quắm cán dài. Hắn không nhắm vào người trên bè. Hắn vung dao lên, nhằm vào sợi dây chão căng ngang ngay trên đầu.
Kiều phóng cây côn ra trước khi kịp nghĩ. Đầu côn gỗ táu đập trúng cổ tay hắn, con dao quắm bay lên, quay mấy vòng rồi rơi xuống nước. Nhưng người thứ hai đã kịp làm cái việc người thứ nhất không làm được. Hắn đứng phía sau, cầm một cái rìu nhỏ, chặt một nhát vào sợi dây, chỗ sát mép bè.
Sợi dây không đứt hẳn. Nó toác ra một nửa, rồi những sợi đay còn lại căng lên dưới sức kéo của cả cái bè và dòng nước, đứt từng sợi một, kêu tách tách như tiếng nổ của rơm ướt.
– Ngồi xuống! – bà Thẹo hét.
Dây đứt. Cái bè bị dòng nước giật mạnh, xoay nửa vòng. Kiều ngã chúi xuống, tay vẫn nắm cây côn. Mấy bao thóc trên cùng xô về một bên. Nàng nghe tiếng Cải kêu lên một tiếng bằng tiếng bản, không phải vì mấy bao thóc, mà vì cái chậu sành đang trượt về phía mép bè. Anh nằm sấp xuống, dùng cả người mình đè lên nó.
Một bao thóc lăn khỏi bè, rơi tõm xuống nước.
Tảo nhảy theo.
Nó nhảy không kịp cởi áo, không kịp suy tính, như đứa trẻ ở phố cảng nhảy theo đồng xu người ta ném xuống bến. Kiều chỉ kịp thấy cái lưng áo nâu của nó chìm xuống dòng nước xanh đục.
Trên chiếc thuyền nan, gã cầm rìu đang định chặt nốt vào cái móc gỗ của bà Thẹo. Kiều đứng dậy trên cái bè đang xoay, chống côn xuống sàn tre lấy thế, vụt một đường ngang. Gã kia đưa rìu lên đỡ. Côn gỗ táu va vào cán rìu, cán rìu gãy, gã mất đà, ngã ngửa ra sau, lộn xuống sông. Gã thứ nhất ôm cổ tay, vội vàng chèo thuyền lại vớt bạn rồi bơi ngược vào bờ đá.
Bà Thẹo đã bỏ cái móc, chụp lấy cây sào dài, cắm xuống lòng sông. Sào cong vồng lên. Bà nghiến răng, vết sẹo trên mặt căng ra thành một đường trắng. Cái bè từ từ thôi xoay, rồi trôi chéo về phía một bãi cát nổi giữa sông.
Kiều đếm. Một nhịp thở. Hai. Năm. Mặt nước chỗ Tảo nhảy xuống vẫn trống trơn.
Rồi cách đó chừng hai chục bước, một cái đầu tóc bết ngoi lên, rồi một bàn tay, rồi cái bao thóc. Tảo ôm nó bằng cả hai tay, đạp nước bằng chân, miệng phun nước phì phì, mặt tái như tàu lá chuối.
– Chị! Nó nặng quá! Nó uống nước, nó nặng hơn em rồi!
Kiều cười, cười đến mức suýt rơi nước mắt. Nàng nằm sấp ra mép bè, chìa đầu côn cho nó bám.
Họ mắc cạn ở bãi cát giữa sông gần một canh giờ, chờ ông Cương và chú Sún mượn được thuyền của dân chài ra kéo. Trời chiều đổ lạnh. Tảo ngồi run cầm cập trong cái áo bông của Kiều, môi tím ngắt, tay vẫn ôm khư khư cái bao thóc ướt như sợ nó lại nhảy xuống sông.
Kiều đứng trên bãi cát, nhìn sang bờ phía thượng lưu. Chiếc thuyền nan đen đã biến mất. Nhưng trên một mỏm đá cao, có một người mặc áo xám đứng nhìn xuống. Hắn đứng đó từ lúc nào nàng không biết. Hắn đeo một thanh kiếm dài ở hông, không có tua, không có trang sức. Hắn không làm gì cả. Hắn chỉ nhìn, rồi khi biết nàng đã thấy mình, hắn quay lưng đi thong thả, như người xem xong một gánh hát rong.
Bà Thẹo cũng nhìn theo hướng ấy.
– Người của nhà nào thế cô?
– Cháu không biết.
– Thế thì cô nên biết đi. – Bà nói, rồi nhổ một bãi nước bọt xuống sông. – Cái loại đứng nhìn người khác làm bẩn tay mình là cái loại khó đánh nhất.
Đêm ấy họ cắm trại ở bờ bắc sông Lam Thủy, dưới một rặng tre. Ông Cương trả cho bà Thẹo năm chuyến đò như đã hẹn, rồi trả thêm tiền một sợi dây chão mới. Bà nhận tiền dây, không nhận thêm đồng nào.
Cải cởi cái nút quai chèo trên bao thóc ướt. Nút không tuột, dù đã bị nước kéo suốt một quãng sông. Anh đổ thóc ra mấy tấm chiếu, trải mỏng, đốt hai đống lửa hai bên để hong. Anh nói thóc ngâm nước một buổi không sao, chỉ sợ để ủ ướt qua hai đêm thì nó tưởng đã đến mùa gieo, nó nứt nanh ngay trong bao.
– Thóc cũng biết tưởng à anh? – Tảo hỏi, răng vẫn va vào nhau.
– Biết chứ. Cái gì sống cũng biết tưởng.
Rồi anh làm cái việc mà từ đây về sau Kiều sẽ thấy anh làm suốt dọc đường. Anh mở miếng vải ướt gói nắm thóc lấy ra từ hôm ở kho bến Cá. Một trăm hạt. Kiều cúi xuống nhìn cùng anh dưới ánh lửa. Hạt nào cũng đã nứt ra ở đầu một chấm trắng nhỏ như đầu kim, cái mầm đầu tiên.
– Chín mươi tư hạt, – Cải đếm. – Tốt.
Anh vùi chúng xuống lớp đất nâu đỏ trong cái chậu sành, tưới bằng một ngụm nước anh ngậm trong miệng rồi phun ra thành bụi, như người bản anh vẫn tưới mạ. Rồi anh bốc một nắm thóc mới từ bao thứ hai, đếm một trăm hạt, gói vào vải ướt, để cạnh đống lửa.
– Ba đêm nữa, – anh nói.
Gần nửa đêm, khi Kiều đang canh lửa, có một tiếng động khô từ phía bìa rừng, rồi tiếng gỗ nứt. Nàng chụp lấy côn, đứng bật dậy. Ông Cương đã đứng dậy trước nàng, không biết ông thức từ lúc nào.
Cắm trên cọc tre đầu xe trước, ngay dưới lá cờ tiêu, là một mũi tên lông gà. Đuôi tên còn đang rung. Quanh thân tên quấn một dải vải trắng.
Ông Cương rút mũi tên ra, tháo dải vải, đưa lại gần đống lửa. Kiều đọc qua vai ông. Chữ viết bằng than, nét to, cứng, như viết bằng đầu một que củi:
Úc Thừa Cương. Ba mươi năm. Đèo Ngựa Quỳ vẫn nhớ ông.
Ông đọc xong, gấp dải vải lại làm tư, bỏ vào ngực áo, chỗ ông cất tấm bản đồ. Rồi ông ngồi xuống bên đống lửa, chìa hai bàn tay ra hơ, bàn tay năm ngón và bàn tay ba ngón.
– Ông không nói gì à? – Kiều hỏi.
– Nói gì? – Ông nhìn lửa. – Người ta nhớ mình. Thế cũng tốt. Mình đỡ phải giới thiệu.
— Hết chương 2 —

🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe