Chương 9: Tháng Bảy: Cây Cụ
Kết quả về vào sáng mười hai tháng Bảy, và chị Hiền không gọi điện. Chị đi xe máy về tận nơi, đứng dưới gốc cây Cụ, cởi mũ bảo hiểm ra cầm trên tay.
– Chị muốn nói trực tiếp, – chị nói.
Đài biết ngay. Cô đã biết từ hôm cái Mít đứng ở cửa nhà lưới với con rầy còn sống trong lọ. Từ hôm đó tới nay hơn một tháng, cả nhà phun thuốc trừ rầy cây Cụ theo đúng lịch, Chinh trèo lên tận cành cao nhất xem từng đọt lộc, chị Hiền về lấy mẫu hai lần. Đầu tháng Bảy, ở cành phía Tây, cành vươn ra phía vườn bưởi đỏ cũ, có ba chiếc lá vàng loang, không đối xứng, gân xanh. Chinh đã nhìn ba chiếc lá ấy rất lâu, rồi không nói gì, trèo xuống, đi rửa tay.
– Dương tính, – chị Hiền nói. – Mẫu cành phía Tây dương tính. Mẫu ba hướng kia chưa thấy. Nhưng em biết rồi đấy, vi khuẩn đi theo mạch nhựa. Mấy tháng nữa là cả cây.
Không ai nói gì. Bà Ngần đứng ở hiên, tay cầm cái chổi lúa đang quét dở. Ông Khiết ngồi ghế mây, hai tay nắm đầu cây gậy. Chinh đứng cạnh giếng, nhìn lên tán lá.
– Cây này già quá, – chị Hiền nói, giọng nhỏ đi. – Chị biết nó quý thế nào. Nhưng nó đứng giữa xóm. Rầy đậu vào nó rồi bay đi đâu cũng được. Cả xóm vừa chặt, vừa trồng lại, nếu nó còn đứng thì…
Chị không nói hết câu. Không cần nói hết.
Đài nhìn lên cây Cụ. Tán lá xòe rộng che kín nửa sân, nắng tháng Bảy lọt qua kẽ lá thành những đốm sáng nhảy múa trên mặt gạch. Trên cành vẫn treo lủng lẳng mấy chục quả bưởi non, xanh bóng, bằng cái bát ăn cơm. Cô nhớ lần bảy tuổi trèo lên rồi không dám xuống. Nhớ ông cụ Hà Nội kể chuyện hái trộm. Nhớ bố ngồi dưới gốc, cầm con dao ghép lưỡi cong, tách vỏ cây lấy mắt, tay ông không run một lần nào.
Cô quay sang bố.
Ông Khiết đang nhìn cây. Mặt ông không biểu cảm, chỉ có hai bàn tay trên đầu gậy là nắm chặt tới mức trắng bệch. Rồi ông nhìn sang Chinh. Chinh nhìn lại ông. Đài thấy giữa hai người đàn ông có một cuộc nói chuyện diễn ra mà không cần một chữ nào. Năm năm, cô nghĩ, năm năm hai người ngồi với nhau mỗi tối, đã đủ để nói chuyện bằng mắt.
Ông Khiết chống gậy đứng dậy. Bà Ngần buông chổi, chạy lại đỡ, ông gạt tay bà ra. Ông đi. Một bước. Hai bước. Cây gậy bốn chân gõ lên mặt gạch từng tiếng khô khốc. Mười hai bước từ hiên tới gốc cây Cụ. Ông chưa bao giờ đi được mười hai bước một mình.
Ông tới gốc cây. Ông đặt bàn tay trái lên lớp vỏ sần sùi, như hôm ông dắt Chinh ra đây năm năm trước. Rồi ông quay lại, nhìn con gái.
Môi ông mấp máy. Cổ ông nổi gân. Đài thấy ông cố, cố hơn tất cả những lần trước. Mặt ông đỏ lên rồi tái đi.
– Chặt, – ông nói.
Cả sân lặng đi.
– Còn… – Ông thở hắt, rặn từng chữ ra như người ta kéo cái gầu nước nặng từ đáy giếng sâu. – Còn… trong… lưới.
Bà Ngần đưa hai tay lên bịt miệng. Chị Hiền quay mặt đi chỗ khác. Chinh đứng im bên giếng, nhưng Đài thấy anh đưa mu bàn tay lên quệt mắt, nhanh, một lần.
Cô đi tới, đứng cạnh bố, đặt tay mình lên lớp vỏ cây, ngay cạnh bàn tay ông.
– Vâng, – cô nói. – Còn trong lưới.
Họ chặt cây Cụ vào ngày rằm tháng Sáu âm lịch, sau khi bà Ngần chọn ngày.
Tối hôm trước, cả nhà ngồi dưới gốc cây Cụ lần cuối. Không ai bảo ai, nhưng bà Ngần dọn mâm cơm ra sân như những tối mùa hè ngày xưa. Chinh sang, ngồi ở chỗ quen. Bà Ngần hái một quả bưởi non trên cành thấp, bổ ra. Múi bưởi còn trắng, còn chua, chát đầu lưỡi. Không ai chê. Mỗi người ăn một múi, ăn chậm, như ăn một thứ gì đó phải nhớ.
Ông Khiết cầm múi bưởi trong tay rất lâu mới ăn. Ăn xong, ông nhặt hạt bưởi lên, chùi vào vạt áo, bỏ vào túi áo ngực. Đài hỏi bố giữ hạt làm gì. Ông không trả lời được, chỉ vỗ vỗ lên túi áo, cười méo một bên.
Gió thổi qua tán lá cả đêm. Đài nằm trong nhà, nghe tiếng lá xào xạc ngoài sân tới gần sáng mới ngủ được.
Sáng hôm ấy, bà Ngần dọn một mâm lễ nhỏ đặt dưới gốc cây: đĩa xôi, nải chuối, chén rượu, bó hương. Bà không mời thầy cúng. Bà tự thắp hương, khấn mấy câu, giọng lầm rầm, Đài đứng sau chỉ nghe được mấy chữ: ông bà tổ tiên, cây của nhà, xin phép. Rồi bà cắm hương vào bát, quay đi, mắt ráo hoảnh.
Cả xóm Gò Mít kéo sang. Hôm chặt bưởi đỏ, người ta đứng xem như xem đám. Hôm nay người ta đứng như đi viếng. Mấy ông già đội mũ cối đứng thành hàng ở cổng. Mấy bà mang theo nắm hương, đứng nép dưới hiên, không ai nói to. Ông trưởng thôn không cầm biên bản. Ông chỉ đứng ở góc sân, cái mũ cầm trên tay.
Lần này Đài không tự kéo cưa. Chinh làm. Anh xin cả nhà để anh làm, vì anh là người đã lấy mắt ghép từ cây này nhiều nhất. Anh không thuê thợ cưa máy. Anh trèo lên, cưa từng cành một, bằng cưa tay, từ ngọn xuống. Mỗi cành rơi xuống, người ta đỡ lấy, đặt xuống đất, như đỡ một người ngã. Mấy quả bưởi non trên cành lăn ra, bọn trẻ con nhặt lên, ôm trong tay, không ai dám chơi.
Tới gần trưa, chỉ còn trơ cái thân cây lớn, cao ngang mái nhà.
Lúc ấy, bà Đẩu đi vào cổng.
Cả sân quay lại nhìn. Hai tháng nay, bà Đẩu chưa sang nhà ông Khiết lần nào. Bà ngủ ngoài gốc cây nhà mình, cãi tay đôi với ông trưởng thôn, gặp bà Ngần ngoài chợ thì quay mặt đi. Bà đi chậm qua sân, hai tay chắp trước bụng, cái Mít lẽo đẽo theo sau, ôm cái lọ thủy tinh.
Bà dừng lại trước thân cây Cụ trơ trụi. Bà ngửa cổ nhìn lên. Rồi bà làm một việc không ai ngờ. Bà cúi đầu, vái ba vái.
– Năm chín tám, – bà nói, không nhìn ai. – Nhà tôi mới ra ở riêng, không có lấy một cây bưởi. Ông Khiết cho tôi hai mươi mắt ghép cây này. Không lấy tiền. Hai trăm gốc bưởi nhà tôi bây giờ là con cháu cây này cả.
Bà quay sang ông Khiết, đang ngồi trên ghế mây ở hiên.
– Cây Cụ nhà ông còn chặt được, – bà nói, giọng vỡ ra ở giữa câu. – Thì sáu cây nhà tôi có là cái gì.
Rồi bà quay sang Chinh, đang đứng trên thang, tay vẫn cầm cái cưa.
– Thằng Chinh. Chiều nay sang chặt cho tôi.
Chinh nhìn bà từ trên cao. Anh gật đầu.
Cái Mít níu vạt áo bà, ngước lên.
– Bà ơi, thế bà có phải ngủ ngoài vườn nữa không?
– Không, – bà Đẩu nói, xoa đầu cháu. – Bà về giường. Ngoài ấy muỗi đốt bà sưng cả người rồi.
Có tiếng ai đó bật cười trong đám đông, rồi cả sân cười, cái cười lẫn với nước mắt.
Chiều hôm ấy, khi Chinh và hai người đàn ông trong xóm đang chặt sáu cây bưởi già nhà bà Đẩu, thì xe bán tải của Hưng chạy vào ngõ.
Anh đỗ xe, xuống, đứng ở hàng rào. Trông anh gầy đi, cái đồng hồ mạ vàng không còn trên cổ tay. Anh không nhìn ai, chỉ nhìn sáu cây bưởi đang lần lượt đổ xuống.
Đài đi ra hàng rào. Hai anh em đứng hai bên, một lúc lâu không nói gì.
– Cái vườn ươm ấy không có thật, – Hưng nói. – Anh đi vào tận nơi rồi. Ở cái địa chỉ trên giấy là một bãi đất trống. Bọn nó gom cây trôi nổi các nơi, đóng bầu, làm cái giấy giả. Anh cũng bị lừa.
– Anh bị lừa, – Đài nói. – Em cũng bị lừa. Nhưng em nhận rồi. Còn anh tắt máy ba tháng.
Hưng cúi mặt. Anh rút trong túi áo ra một cái phong bì dày, đưa qua hàng rào.
– Tiền sáu cây của bà Đẩu, – anh nói. – Anh tính theo giá bưởi bốn năm sản lượng. Không đủ đâu. Nhưng anh chỉ có ngần ấy.
Đài nhìn cái phong bì. Rồi cô quay lại, gọi to:
– Bà Đẩu ơi! Anh Hưng có cái này gửi bà. Bà ra mà nhận, cháu không nhận hộ.
Bà Đẩu ra. Bà nhìn Hưng từ đầu tới chân. Bà nhận cái phong bì, không mở, nhét vào túi áo. Rồi bà nói, giọng loa phường quen thuộc:
– Mày mà còn bán cái giống gì không rõ gốc gác cho đứa nào trong xóm này, tao đi kể từ đây lên tận tỉnh. Nghe chưa?
Hưng gật đầu. Anh lên xe, đi. Lần này không rồ ga.
Tối đó, sân nhà ông Khiết rộng ra một cách lạ lùng. Ánh trăng rằm, không còn tán lá nào che, đổ thẳng xuống mặt gạch, sáng trắng như ban ngày. Gốc cây Cụ cưa sát đất, phủ một lớp vôi trắng, to như cái mâm.
Đài ngồi trên bậc thềm, nhìn sang đồi bên kia. Cái màn trắng vẫn ở đó, phập phồng dưới trăng, như đêm đầu tiên cô về. Đêm ấy cô gọi nó là cái màn khổng lồ, nửa đùa nửa chê. Bây giờ cô biết trong đó có ba cây mẹ, mỗi cây mang trong mình cây Cụ, trẻ hơn sáu mươi tuổi, và ba nghìn hai trăm cây con chờ xuống đất.
Có tiếng gậy gõ trên hiên. Bố cô đi ra, chậm, từng bước, rồi ngồi xuống cạnh cô trên bậc thềm. Ông nhìn cái gốc cây trắng vôi giữa sân. Rồi ông nhìn sang cái màn bên kia đồi.
– Còn, – ông nói. Chỉ một chữ.
Đài tựa đầu vào vai bố. Vai ông gầy hơn trước nhiều, nhưng vẫn ấm.
— Hết chương 9 —

💞 Ngôn tình
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe