Chương 10: Tháng Chạp: Cái màn nhỏ
Ông Khiết cầm cái xẻng bằng tay trái, xúc nhát đất đầu tiên, và cả sân vỗ tay như xem người ta cắt băng khánh thành.
Nhát đất nhỏ xíu, chỉ đủ một nắm, rơi lả tả xuống cái hố Chinh đào sẵn bên cạnh gốc cây Cụ cũ. Ông Khiết thở dốc, chống xẻng, nhìn cái hố như nhìn một công trình lớn. Rồi ông đưa xẻng cho con gái.
Đài xúc tiếp. Bà Ngần cầm cái bầu cây, xé lớp nilon đen, đặt cây bưởi con vào lòng hố. Cây cao ngang thắt lưng, ba tầng cành, lá xanh đậm. Mắt ghép lấy từ cây mẹ thứ nhất trong nhà lưới, cây mẹ ghép từ cây Cụ năm đầu tiên. Nói cách khác, Chinh đã giải thích cho bà Ngần ba lần, đây là cháu nội của cây Cụ, hoặc là chính cây Cụ, tùy cách cô muốn nghĩ.
Bà Ngần bảo bà nghĩ nó là cháu. Cháu thì phải chăm kỹ hơn con.
Trồng xong, ông Khiết chống gậy vào nhà. Lúc trở ra, trong tay ông là mấy hạt bưởi đã khô quắt, những hạt ông nhặt từ múi bưởi non tối hôm trước ngày chặt cây Cụ. Ông không gieo. Chinh đã giải thích từ lâu, hạt gieo lên không giữ được giống mẹ. Ông chỉ bỏ chúng vào một cái lọ thủy tinh nhỏ, đặt lên bàn thờ, cạnh ảnh ông nội Đài, rồi chắp tay đứng rất lâu.
Đó là một sáng tháng Mười, và đó là cây đầu tiên trong bốn nghìn một trăm cây trồng lại ở xóm Gò Mít mùa thu năm ấy.
Hồ sơ công nhận cơ sở sản xuất giống của Chinh được duyệt cuối tháng Chín. Chị Hiền mang tờ quyết định về tận nhà lưới, đóng khung kính tử tế, bảo treo lên cho người ta thấy. Chinh treo nó trong cái lán nhỏ, chỗ anh ngủ những đêm gió to, ngay cạnh cái lọ thủy tinh cái Mít tặng anh, trong đó vẫn còn mười hai con rầy chết khô, mỗi con một mẩu băng dính ghi ngày.
Ba nghìn hai trăm cây trong nhà lưới không đủ. Cả xóm cần hơn bốn nghìn. Chinh và Đài ngồi tính suốt một đêm. Cây nào đủ lớn thì xuất trước. Chỗ thiếu thì Chinh liên hệ hai cơ sở được công nhận ở tỉnh bên, những người anh quen từ thời đi học, xin xếp hàng vụ sau. Ai nhận cây đợt hai thì được ưu tiên nhận cây sớm nhất vụ xuân.
Cái cách trả bằng bưởi của Đài, lúc đầu người ta không tin.
Ông trưởng thôn họp xóm lần nữa ở nhà văn hóa. Đài đứng lên giải thích, giấy trắng mực đen, mỗi nhà một bản thỏa thuận một trang, chữ to, không có điều khoản nào phải đọc hai lần mới hiểu. Nhận cây bây giờ, không trả tiền. Năm thứ tư, mỗi cây trả năm quả bưởi loại một. Bưởi thu về, Đài bán, trừ chi phí, trả tiền cây cho nhà lưới, phần dư bỏ vào quỹ chung mua thuốc trừ rầy phun đồng loạt cho cả xóm.
– Thế nhỡ năm thứ tư cây không ra quả thì sao? – một ông già hỏi.
– Thì năm thứ năm trả, – Đài nói. – Cây không ra quả thì là do cây hoặc do người. Do cây thì anh Chinh chịu. Do người thì người chịu.
– Nhỡ cô bán bưởi rồi ôm tiền đi Hà Nội thì sao?
Đài chưa kịp trả lời. Bà Đẩu ngồi hàng đầu đã quay phắt lại, chỉ tay vào ông già.
– Ông Tư! Con bé chặt cả cây Cụ nhà nó trước mặt cả xóm. Ông chặt được cây nào nhà ông chưa mà ông nói?
Ông Tư ngồi im. Cả phòng cười. Ba mươi tám hộ ký ngay tối hôm đó. Bốn hộ còn lại ký vào tuần sau, sau khi đi một vòng hỏi khắp xóm và nhận ra mình là bốn hộ duy nhất chưa ký.
Tháng Mười, tháng Mười Một, cả xóm trồng cây.
Bà Đẩu là người nhận cây đầu tiên. Bà nhận đúng sáu cây, trồng đúng vào sáu chỗ có gốc cây cũ sát hàng rào, mỗi gốc cũ một cây mới đặt bên cạnh. Bà bắt Chinh đứng xem bà trồng từ đầu đến cuối, hố sâu bao nhiêu, đất lấp tới đâu, rồi hỏi đúng chưa. Anh bảo đúng rồi. Bà bảo thế thì đi đi, việc của bà bà tự làm. Rồi lúc anh đi được nửa đường, bà gọi giật lại, dúi vào tay anh một túi lạc rang còn nóng.
– Ăn đi, – bà nói. – Gầy như cái que, thảo nào con bé Đài nó phải đi tính hộ.
Chinh đi từ nhà này sang nhà khác. Anh dạy người ta đào hố rộng bao nhiêu, sâu bao nhiêu, bón lót bao nhiêu, đặt bầu thế nào cho mắt ghép nằm cao hơn mặt đất. Anh dạy người ta nhìn lộc non, nhìn rầy, phun thuốc đúng đợt lộc, không phun tràn lan. Anh dạy lại những thứ mà nhiều ông già trong xóm đã làm bốn mươi năm, và lần này không ai cười anh.
Cái Mít đi theo anh khắp nơi. Nó được giao một việc chính thức: đội trưởng đội bắt rầy của xóm, ba đứa trẻ con, mỗi đứa một cái lọ. Mỗi chiều thứ Bảy, đội của nó đi một vòng các vườn, lật từng ngọn lộc. Bắt được con nào thì đem lên cho chú Chinh xem. Từ tháng Mười tới giờ, chúng bắt được bốn con. Chinh gửi cả bốn con lên trạm. Cả bốn con âm tính. Cái Mít hơi thất vọng.
Ly về vào tháng Mười Một, lần này mang ủng cao su. Cô quay cảnh cả xóm trồng cây. Quay ông Khiết đứng cạnh cây bưởi con ở gốc cây Cụ cũ. Quay bà Đẩu đứng giữa vườn, chống nạnh, chỉ huy ba đứa cháu xới đất. Quay bàn tay cái Mít giơ cái lọ thủy tinh lên trước ống kính. Đài viết lời kể. Không đẹp, không bi thương. Chỉ kể thật: bưởi Gò Mít đã có dịch, đã chặt, đã trồng lại bằng cây sạch, bốn năm nữa mới có quả. Ai muốn chờ thì chờ.
Đoạn phim không được nhiều người xem bằng đoạn phim mùa hoa. Nhưng một tuần sau, công ty lữ hành từng gửi tin nhắn lịch sự hồi tháng Tư gửi lại một tin nhắn khác. Họ muốn đặt mười đoàn mùa hoa năm sau. Không phải để xem hoa bưởi, họ viết, vì năm sau hoa chưa nhiều. Mà để xem một cái xóm trồng lại.
Đài thôi việc ở ngân hàng vào ngày mười lăm tháng Mười Một. Cô gửi đơn qua thư điện tử, kèm một câu xin lỗi vì đã xin nghỉ không lương quá lâu. Trưởng phòng của cô gọi lại, hỏi cô có chắc không. Cô nói chắc. Trưởng phòng hỏi cô định làm gì. Cô nói bán bưởi, bốn năm nữa.
Tháng Chạp, mưa phùn bắt đầu bay.
Chiều hai mươi ba tháng Chạp, Chinh đến nhà Đài, ôm theo một thứ kỳ lạ.
Một cái khung tre vuông vức, cao ngang ngực người lớn, bốn cạnh buộc dây đay, căng một lớp lưới trắng mắt nhỏ, loại lưới anh dùng trong nhà lưới. Một cánh cửa nhỏ ở một bên, cài bằng cái chốt gỗ. Trông nó như cái màn ngủ của một đứa trẻ con, hoặc một cái lồng chim rất to.
Anh đặt nó xuống giữa sân, trùm lên cây bưởi con bên cạnh gốc cây Cụ cũ. Vừa khít.
– Cây còn non, – anh nói. – Lộc xuân năm nay mà ra thì rầy tới trước. Trùm cái này cho nó qua hai mùa lộc đầu tiên. Lớn rồi thì tháo ra.
Đài đứng nhìn cái màn nhỏ. Cây bưởi con đứng bên trong lớp lưới trắng, lá xanh mờ mờ như nhìn qua sương. Bên kia đồi, cái màn lớn cũng trắng, cũng phập phồng trong gió chiều.
– Cái màn to bên kia là của anh, – cô nói. – Cái màn nhỏ này của ai?
Chinh không trả lời ngay. Anh cúi xuống, kiểm tra cái chốt cửa, kiểm tra lần nữa, dù cái chốt chẳng có vấn đề gì. Anh biết sau gáy mình đang đỏ dần lên, đỏ tới tận vành tai, và anh biết cô đang nhìn đúng chỗ đó.
– Của nhà mình, – anh nói, vẫn không đứng dậy.
– Nhà mình là nhà nào?
– Nhà mình, – anh nhắc lại. Rồi anh đứng thẳng lên, nhìn cô. Anh thấy mình giống thằng bé mũi đỏ ngày xưa, trèo lên cành cao nhất cây bưởi nhà người ta mà không chắc có xuống được không. – Nếu em muốn.
Mưa phùn đọng trên tóc cô thành những hạt li ti. Chinh nhớ cái đêm hội làng tháng Giêng, mưa phùn cũng bay như thế này, và tay anh nắm lấy tay cô mà không biết từ lúc nào. Anh nhớ cô cắn múi bưởi chua mà không nhè ra. Anh nhớ cô đứng giữa nhà văn hóa, nắm chặt vạt áo cho tay khỏi run. Cô nhìn anh rất lâu, lâu tới mức anh tưởng mình đã trèo nhầm cành.
– Em muốn, – cô nói.
Từ trong bếp vọng ra tiếng bà Ngần, giọng cứng như mọi khi:
– Hai đứa đứng ngoài mưa làm gì thế? Vào ăn cơm! Canh cua nguội hết rồi!
Rồi giọng bà thấp xuống, nói với ai đó trong bếp, mà vẫn đủ to cho cả sân nghe:
– Ông nhìn kìa. Hai mươi ba tháng Chạp, tiễn ông Táo lên trời, thằng ấy mang cái màn sang hỏi vợ.
Chú Khiết cười. Lần đầu tiên từ ngày chú ngã bệnh, Chinh nghe chú cười thành tiếng, khàn và méo, nhưng là tiếng cười thật. Bên cạnh anh, Đài đứng im, mắt đỏ hoe, môi mím lại như sợ mở ra thì khóc.
Bên hàng rào, có tiếng tặc lưỡi. Bà Đẩu đứng đó từ lúc nào, tay cầm cái rổ, đầu đội cái nón lá ướt mưa. Bà nhìn cái màn nhỏ, nhìn hai người đứng cạnh nhau, rồi quay người, đi thẳng ra ngõ, bước chân nhanh như người có việc gấp.
Chinh biết bà đi đâu. Trước khi trời tối, cả xóm Gò Mít sẽ biết.
Đài không gọi bà lại. Cô cầm lấy tay anh, bàn tay còn dính đất, kéo anh đi vào bếp. Sau lưng họ, giữa cái sân rộng không còn tán cây che, cái màn nhỏ đứng một mình trong mưa phùn, lớp lưới trắng lấm tấm những hạt nước, và cây bưởi con bên trong, cháu nội cây Cụ, đang đợi mùa lộc đầu tiên của nó.
— Hết —

💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe
💞 Ngôn tình🎧 Nghe