Chương 1: Cái khăn rằn trên gối
Đêm đầu tiên ngủ ở nhà vựa, ba giờ sáng tôi thức dậy vì gối của chồng tôi ướt.
Không phải ướt mồ hôi. Tôi biết mồ hôi của Kiết, mười bốn năm nằm cạnh nhau, mồ hôi anh mặn và ấm, thấm thành một vệt hình trái tim dưới gáy. Cái ướt này lạnh, lạnh như vừa vớt từ dưới sông lên, và nó không nằm dưới gáy anh. Nó nằm trên trán anh.
Tôi bật cái đèn pin điện thoại. Trên trán Kiết có một cái khăn rằn.
Khăn rằn ca rô đen trắng, loại mấy bà bán cá ngoài chợ quấn cổ, cũ tới mức màu trắng đã ngả sang màu nước trà. Nó được gấp làm tư, đặt ngay ngắn trên trán anh, như cách má tôi ngày xưa đắp khăn cho tôi mỗi lần tôi sốt. Nước từ cái khăn rỉ xuống thái dương anh, chảy vào tóc, thấm xuống gối. Có mùi bùn. Có mùi sông, cái mùi tanh tanh ngai ngái của nước sông Tiền lúc ròng.
Kiết ngủ say. Anh thở đều. Trán anh, lúc tôi đưa tay sờ dưới cái khăn, mát lạnh.
Tôi không mang theo cái khăn rằn nào từ Sài Gòn. Nhà tôi không ai dùng khăn rằn.
Tôi nằm im, cầm cái đèn pin, không dám cầm cái khăn lên, không dám đánh thức anh. Ngoài kia, dưới cầu bến, nước sông vỗ vào mấy cây cột gỗ, óc ách, óc ách. Con tắc kè trên kèo nhà kêu bảy tiếng. Tôi đếm từng tiếng.
Chuyện là chúng tôi về đây vì hết đường.
Tiệm in của Kiết ở Tân Bình chết sau ba năm cầm cự. Đơn hàng in thiệp cưới, in hộp bánh, in tờ rơi cứ thưa dần, rồi cái máy in offset mua trả góp hỏng trục, rồi chủ nhà tăng tiền mặt bằng. Tháng Năm, Kiết ký giấy sang lại tiệm, trả nợ ngân hàng xong thì còn đúng bốn mươi hai triệu. Bốn mươi hai triệu, hai đứa con, một bà má chồng bảy mươi hai tuổi, và một căn nhà thuê ở Gò Vấp tám triệu một tháng.
Người nghĩ tới căn nhà vựa là tôi.
Căn nhà của ông bà nội Kiết, ở chợ Rạch Bần, Đồng Tháp, mặt tiền ra sông Tiền. Má chồng tôi đã bồng Kiết lên Sài Gòn từ năm hai ngàn lẻ một, từ đó tới giờ chưa về ở lại đêm nào, chỉ về giỗ rồi đi trong ngày. Nhà khoá, nhờ vợ chồng Út Ẩn chạy đò ngang bên cạnh coi chừng, mỗi năm gửi cho họ ít tiền. Nhà rộng, có kho, có bến, không tốn đồng thuê nào. Kiết tính rồi: về đó mở lại một cái tiệm in nhỏ, in bao bì cho mấy lò bánh phồng, lò kẹo dừa, mấy vựa trái cây quanh vùng. Bự với Nhuỵ học trường xã. Tôi làm kế toán từ xa cho hai công ty cũ.
Má chồng tôi không chịu. Bà không cãi, bà chỉ ngồi im, tay vê vạt áo bà ba, mặt quay ra cửa sổ. Ba ngày sau bà mới nói một câu, nói với tôi chứ không nói với con trai bà:
– Con Thy, nhà đó không cho đàn ông ở đâu con.
Tôi tưởng bà nói chuyện phong thuỷ, chuyện hướng nhà. Tôi cười, nói má ơi giờ hết tiền rồi, có cái mái che đầu là quý. Bà nhìn tôi rất lâu, rồi gật đầu.
Chúng tôi về tới Rạch Bần vào một buổi chiều cuối tháng Sáu, trời mưa lâm râm. Xe tải chở đồ phải đậu ở đầu lộ, vì con hẻm vô nhà chỉ vừa cho một chiếc xe máy, hai bên là hàng bông bụt với mấy bụi chuối. Út Ẩn với vợ ra phụ khiêng. Ông ngoài năm mươi, người đen nhẻm, gầy, bắp tay như dây chão, quấn cái khăn rằn trên đầu. Lúc ông cúi xuống khiêng cái tủ lạnh, cái khăn tuột ra, ông lại quấn lên, chậm rãi, kỹ lưỡng, như người ta quấn một thứ gì quan trọng.
Căn nhà vựa lúa nằm cuối hẻm, sát mé sông. Nó lớn hơn tôi tưởng và cũ hơn tôi tưởng. Nhà trên ba gian, cột gỗ căm xe đen bóng, mái ngói âm dương rêu phủ, hai bên hiên có lan can gỗ tiện. Phía sau là cái kho lúa, vách ván, nền cao, giờ trống trơn, chỉ còn mấy cái bồ bằng cót mục và mùi trấu cũ. Từ hiên sau có một cái cầu bến bằng ván, chạy dài ra sông chừng hai chục thước, đầu cầu có bậc thang xuống nước. Ngày xưa ghe chở lúa cập vào đây, người ta vác lúa từ ghe lên kho. Bây giờ chỉ còn mấy cây cột gỗ mục, ván cầu có tấm lung lay.
Bự mười hai tuổi chạy thẳng ra cầu bến, đứng ở đầu cầu dang tay ra hét: "Sông bự quá má ơi!" Nhuỵ bảy tuổi thì đứng nép sau lưng tôi, nắm vạt áo tôi, nhìn cái kho lúa tối om.
Má chồng tôi bước qua ngạch cửa, đứng giữa gian nhà trên, nhìn lên bàn thờ. Trên bàn thờ có ba tấm hình: một ông già mặt vuông, mắt sắc, mặc áo dài đen; một người đàn ông trẻ hơn, tóc chải bóng, cười hiền; và một cậu thanh niên mặc áo sơ mi trắng, mặt còn non choẹt. Bà đốt ba cây nhang, cắm lên, rồi đứng đó rất lâu, không khấn tiếng nào.
Kiết đứng sau lưng má, đặt tay lên vai bà.
– Ba với anh Hai đó em. – Anh nói với tôi. – Còn ông già kia là ông cố.
Tôi biết. Mười bốn năm làm dâu, tôi biết ba chồng tôi mất năm Kiết lên năm, anh Hai Thao mất năm mười chín tuổi. Tôi chỉ chưa bao giờ hỏi kỹ mất vì sao. Nhà chồng tôi không ai nhắc, mà nhà nào cũng có chuyện không ai nhắc.
Tối đó, Út Ẩn mang qua một nồi cá linh kho với bó bông điên điển mới hái. Vợ ông nấu nồi canh chua. Cả nhà ngồi ăn trên bộ ván gõ ở nhà trên, quạt máy chạy ù ù. Kiết vui. Lâu lắm rồi tôi mới thấy anh vui như vậy. Anh lục trong cái tủ thờ cũ ra được một hũ rượu thuốc của ba anh ngâm từ hồi nào không biết, rượu đã ngả màu hổ phách, trong hũ có mấy khúc rễ cây với một con tắc kè khô.
– Rượu của ba để lại nè. – Anh rót ra cái chung nhỏ. – Ba mươi mấy năm. Uống một chung cho ba vui.
Má chồng tôi buông đũa.
– Đừng uống, Kiết.
– Có một chung mà má.
– Má biểu đừng uống. – Bà nói, giọng không lớn, nhưng tôi thấy tay bà run. – Ba mày uống rượu đó.
Kiết cười, nói má ơi rượu đâu có tội tình gì, rồi anh uống cạn cái chung, khà một tiếng. Út Ẩn ngồi đầu ván, cầm chén nước trà, nhìn Kiết rồi nhìn má, không nói gì. Lúc ra về, ông đứng ở ngạch cửa sau, nhìn ra cái cầu bến tối thui một lúc, rồi quay lại nói với tôi, giọng nhỏ:
– Cô Ba, tối ngủ cô nhớ gài cửa sau. Mà nghe có tiếng gì ngoài bến cũng đừng ra.
– Tiếng gì chú?
– Tiếng nước thôi. – Ông quấn lại cái khăn rằn. – Ở mé sông, đêm nào cũng có tiếng nước.
Trước khi đi ngủ, tôi dắt Nhuỵ ra cửa sau đánh răng bên lu nước. Trời đã tạnh mưa, trăng non treo trên ngọn dừa bên kia sông, mặt nước loang loáng như ai trải một tấm giấy bạc. Có tiếng mái chèo khua nước ở đâu đó, khua một cái rồi thôi. Có tiếng cá đớp mồi ở chân cầu bến.
Nhuỵ ngậm bàn chải, mắt nhìn ra đầu cầu. Nó đứng im như vậy lâu tới mức bọt kem đánh răng chảy xuống cằm.
– Má ơi. – Nó nói, giọng ngọng vì còn ngậm bàn chải. – Sao cô kia đứng ngoài đó mà hổng vô nhà?
Tôi nhìn ra. Đầu cầu bến trống trơn. Chỉ có mấy cây cột gỗ đen sì in trên nền nước sáng.
– Cô nào con?
Nhuỵ nhổ bọt kem, súc miệng, rồi nhìn lại một lần nữa. Nó nhíu mày, cái kiểu nhíu mày của con nít khi thấy người lớn hỏi một câu quá ngu.
– Cô đó đó. – Nó chỉ. – Cô đứng ở cái thang. Cô ướt hết trơn.
Tôi bế nó lên, đi vô nhà, cài then cửa sau. Tôi nói với mình là con bé buồn ngủ, con bé nhìn lộn cây cột thành người. Tôi nói với mình như vậy hai lần.
Đêm đó tôi ngủ ở buồng trong với Kiết. Bự với Nhuỵ ngủ buồng giữa với bà nội. Má chồng tôi lúc đầu muốn Kiết ngủ buồng ngoài, cái buồng sát nhà trên, nói buồng trong ẩm. Kiết nói buồng trong có cửa sổ nhìn ra sông, mát. Bà không nói gì nữa.
Và ba giờ sáng tôi thức dậy, thấy cái khăn rằn ướt trên trán chồng tôi.
Tôi không ngủ lại được. Tôi nằm cầm đèn pin tới lúc gà gáy. Năm giờ, trời hửng sáng, tôi mới dám ngồi dậy, cầm cái khăn lên. Nó vẫn còn ướt, nặng trĩu. Tôi vắt nó trên tay, nước chảy xuống sàn gỗ, đục ngầu, lẫn mấy hạt cát mịn. Kiết trở mình, mắt nhắm mắt mở hỏi tôi làm gì vậy. Tôi chìa cái khăn cho anh coi.
Anh ngồi dậy. Anh nhìn cái khăn. Anh sờ lên trán mình.
– Hồi khuya anh thấy nóng đầu. – Anh nói. – Chắc tại rượu. Rồi anh thấy mát. Anh tưởng em đắp.
– Em không đắp.
– Vậy chắc má.
Tôi đi qua buồng giữa. Má chồng tôi đã dậy, đang ngồi trên giường vấn tóc. Bà nhìn cái khăn rằn trong tay tôi, và tôi thấy mặt bà, trong ánh sáng xám của buổi sớm, trắng bệch như tờ giấy.
– Ở đâu ra? – Bà hỏi.
– Trên trán ảnh, má. Lúc ba giờ khuya.
Bà không trả lời. Bà xỏ chân vào đôi dép, đi một mạch ra nhà sau, ra cửa sau, ra cầu bến. Tôi đi theo.
Hũ rượu thuốc của ba chồng tôi nằm lăn lóc ở đầu cầu bến, nắp mở, trống trơn. Rượu đã đổ hết xuống sông. Con tắc kè khô nằm trên một tấm ván, mấy khúc rễ cây vương vãi.
Và trên mặt ván cầu, từ bậc thang xuống nước cho tới cửa sau nhà, có một hàng dấu chân ướt. Dấu chân trần, nhỏ, thon, bàn chân đàn bà. Nước đọng trong từng dấu, sáng lên dưới ánh trời sớm. Hàng dấu chân đi vô nhà, qua cửa sau. Tôi cúi xuống nhìn sàn nhà sau, thấy nó vẫn tiếp tục, đã gần khô, chỉ còn là những vệt sẫm màu trên nền gạch tàu. Đi qua nhà sau, qua cái hành lang hẹp, tới cửa buồng trong. Buồng của chồng tôi.
Rồi dừng lại ngay bên mép giường, phía Kiết nằm.
Ở chỗ đó, trên sàn gỗ, có hai vệt ướt tròn tròn sát nhau, to cỡ hai cái bánh ú. Đúng cái hình hai đầu gối của một người đã quỳ ở đó rất lâu.
— Hết chương 1 —
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe