Chương 2: Bốn tháng nữa anh bốn mươi
Bà Chín Khéo chín mươi bốn tuổi, ở căn nhà lá sát vách bên trái, ngày nào cũng ngồi trên cái võng ngoài hiên nhai trầu, nhìn ra sông. Bà là người đầu tiên trong xóm nói với tôi hai chữ "lời nguyền", và bà nói nó như người ta nói giá cá linh hôm nay.
– Nhà đó đàn ông hổng ai qua bốn chục. – Bà nhổ bã trầu xuống gốc mai. – Mầy hổng biết hả con? Má chồng mầy hổng nói hả?
Lúc đó là buổi trưa thứ ba sau ngày dọn về. Tôi qua nhà bà xin mấy trái chanh, ngồi lại vì bà mời ăn miếng bánh bò. Tôi cầm miếng bánh trên tay mà không cắn được.
– Ông cố, ông Ba Chỉnh, ba mươi tám. – Bà giơ ngón tay đếm, những ngón tay khô quắt như rễ bần. – Thằng Hách, ba chồng mầy, ba mươi chín. Thằng Hai Thao, mười chín. Ba người, ba đời. Đàn bà trong nhà thì sống dai, bà Hai Tơ sống tới tám mươi mấy. Đàn ông thì cứ tới chừng đó là đi. Đi trong giấc ngủ. Tối còn nói cười, sáng ra kêu hổng dậy.
– Sao người ta nói là lời nguyền hả bà?
Bà Chín nhìn tôi, rồi nhìn qua bên kia vách, về phía căn nhà vựa.
– Hồi đó vựa lúa nhà ông Ba Chỉnh lớn nhất chợ, thuê cả chục người làm. Có con nhỏ tên Tư Quí, mười chín, hai mươi tuổi, làm công sàng lúa. – Bà ngừng lại, nhai trầu một lúc. – Rồi người ta đồn ông Ba với con nhỏ đó. Rồi con nhỏ đi đâu mấy tháng. Rồi về. Rồi một bữa người ta thấy chiếc ghe của vựa trôi giữa sông, nó nằm chết trong ghe.
– Trầm mình hả bà?
– Bà Hai Tơ nói vậy. Bà Hai nói nó bị ông Ba phụ, nó buồn, nó trầm mình. Bà Hai nói trước khi chết nó đứng ngoài bến chửi vô nhà, nó nói đàn ông nhà này hổng ai sống qua tuổi ông Ba. Năm sau ông Ba chết. Ba mươi tám tuổi.
Bà nhổ thêm một bãi trầu.
– Tao hồi đó bằng tuổi nó. Tao chơi với nó. Nó hiền như cục đất. Nó chửi ai được mà chửi.
Tôi về nhà, đứng ở cửa sau nhìn ra cái cầu bến. Nắng trưa chói chang, nước sông đục ngầu màu phù sa, lục bình trôi từng bè. Không có gì đáng sợ cả. Chỉ có một con sông, một cây cầu ván cũ, và mấy cây cột gỗ mục.
Tối đó tôi hỏi má chồng tôi. Tôi chờ Kiết đi tắm, hai đứa nhỏ coi hoạt hình, mới hỏi. Bà đang nhặt rau muống ở nhà sau, tay vẫn bẻ cọng rau đều đều.
– Bà Chín nói rồi hả. – Bà nói, không ngẩng lên. – Má biết thế nào bả cũng nói.
– Má, sao má không nói với con?
– Nói chi. Nói thì con có tin hông? – Bà bẻ một cọng rau. – Má về làm dâu nhà này năm mười tám tuổi. Bà Hai Tơ nói cho má nghe ngay đêm đầu. Má cũng hổng tin. Má cười. Năm ba Kiết ba mươi chín, má hết cười.
Bà kể, giọng đều đều, như kể chuyện nhà người khác. Ba chồng tôi là người hiền, làm nghề sửa máy ghe, uống rượu chỉ ngày giỗ ngày Tết. Tháng Chạp năm chín mốt, sau đám giỗ ông cố, ông uống với bà con tới khuya, rồi kêu mệt, kêu ớn lạnh, đi ngủ sớm. Nửa đêm má nghe ông thở khò khè, như người ngáy, mà to, mà gấp. Má lay ông, ông không dậy. Má gọi to, ông không dậy. Tới lúc hàng xóm chạy qua, ông đã lạnh.
– Còn anh Hai Thao, má?
Bà ngừng tay. Lần đầu tiên bà ngừng tay.
– Thằng Thao bị sốt. – Bà nói. – Sốt ba ngày, uống thuốc rồi đỡ. Đêm thứ ba nó nói má ơi con khoẻ rồi, mai con đi học. Sáng ra má kêu nó dậy ăn cơm. Nó hổng dậy.
Bà bẻ tiếp cọng rau. Cọng rau gãy làm ba.
– Sau đám thằng Thao, má bồng thằng Kiết lên Sài Gòn. Nó mười lăm. Má hổng cho nó về đây ngủ đêm nào. Hai mươi lăm năm. – Bà ngẩng lên nhìn tôi. – Tháng Mười này nó bốn mươi. Con biết hông?
Tôi biết. Mười hai tháng Mười. Năm nào tôi cũng đặt bánh kem.
– Bốn tháng nữa. – Má nói. – Qua bốn tháng nữa thì má đi theo ba nó cũng được. Con ráng giúp má. Đừng cho nó ở nhà này.
Đêm đó tôi kể lại cho Kiết. Anh nằm nghe, tay gác trán, rồi bật cười, cái cười mệt mỏi chứ không phải chế giễu.
– Em ơi, ba anh uống rượu tới nửa đêm, chắc đột quỵ. Anh Hai sốt xuất huyết, hồi đó ở quê chữa đâu có tới nơi tới chốn. Ông cố thì anh nghe kể là té sông. Ba cái chết khác nhau, người ta gom lại thành lời nguyền.
– Còn cái khăn?
– Thì chắc má. Má đắp rồi má không nhớ, hoặc má hổng muốn nhận. Má lo cho anh mà.
– Còn hũ rượu? Còn dấu chân?
Anh im lặng một lúc.
– Có khi là thằng con trai của Út Ẩn. Nó thấy nhà có người lạ, nó chọc. Hoặc má. Má hổng muốn anh uống rượu của ba. – Anh quay sang ôm tôi. – Mình hết tiền rồi Thy. Mình hổng đi đâu được hết. Đừng sợ.
Tôi không cãi. Tôi muốn tin anh.
Nhưng khi anh đã ngủ, tôi lại trở dậy, đi ra nhà trên, đứng trước bàn thờ. Đèn dầu leo lét, ba tấm hình nhìn xuống tôi. Tôi đứng đó, đếm bằng đầu ngón tay như bà Chín đếm. Ông cố ba mươi tám. Ba chồng ba mươi chín. Anh Hai mười chín. Chồng tôi, mười hai tháng Mười này, bốn mươi.
Rồi tôi nhìn kỹ ba gương mặt, một chuyện mà mười bốn năm làm dâu tôi chưa từng làm. Ông cố mặt vuông chữ điền, lông mày rậm, môi mỏng mím chặt, cái mặt của người quen ra lệnh. Anh Hai Thao giống má chồng tôi như đúc, mắt một mí, cằm nhọn. Còn ba chồng tôi thì lạ. Ông không giống ông cố chút nào. Mặt ông dài, thanh, mắt to và sâu, khoé mắt hơi xệ xuống như lúc nào cũng sắp cười, và bên má trái có một cái lúm đồng tiền. Cái lúm đồng tiền đó, chồng tôi có. Thằng Bự cũng có.
Ông cố thì không có. Trên bàn thờ không ai có, ngoài ba chồng tôi.
Tôi nghĩ: con trai giống mẹ cũng là chuyện thường. Rồi tôi nhớ ra trên bàn thờ không có hình bà cố Hai Tơ. Tôi chưa từng thấy mặt bà.
Mấy ngày sau đó không có chuyện gì. Kiết dọn cái kho lúa, quét mạng nhện, gọi thợ về đi lại dây điện, ngồi tính giá một cái máy in cũ. Bự đi theo mấy đứa con nít trong xóm ra ruộng bắt cá rô, chiều về đen như cột nhà cháy, cười toe toét. Tôi ngồi bên cái bàn gỗ ở nhà trên làm sổ sách cho công ty cũ, nghe tiếng ghe máy chạy ngoài sông, tiếng rao bánh mì buổi sáng, tiếng gà vịt nhà bà Chín, và lần đầu sau mấy năm tôi ngủ được trọn một đêm.
Chỉ có Nhuỵ là khác.
Con bé ít nói hẳn đi. Nó hay ra cửa sau, ngồi trên bậc thềm, nhìn ra cầu bến. Một chiều, tôi thấy nó ngồi đó nói chuyện, tay chỉ chỉ, đầu gật gật, mà ngoài cầu bến không có ai.
– Con nói chuyện với ai vậy Nhuỵ?
– Với cô. – Nó nói tự nhiên như nói với bạn học.
– Cô nào?
– Cô dưới bến. – Nó chỉ ra đầu cầu, chỗ có bậc thang xuống nước. – Cô ướt nhẹp hà. Tóc cô dài tới đây nè. – Nó chặt tay ngang lưng. – Cô ngồi đó hoài.
Tôi ngồi xuống cạnh con, cố giữ cho giọng mình bình thường.
– Cô nói gì với con?
– Cô hổng nói. – Nhuỵ nghĩ một chút. – Cô làm vầy nè.
Con bé đưa ngón tay trỏ lên môi. Suỵt.
– Rồi cô chỉ vô nhà. Chỉ vô buồng của ba.
Tối đó Kiết bắt đầu ho. Anh dầm mưa lúc chiều, đi chở mấy cuộn giấy về. Tới chín giờ anh ớn lạnh, tôi cặp nhiệt độ, ba mươi tám độ hai. Tôi cho anh uống viên hạ sốt, đắp mền, rồi nằm cạnh canh. Má chồng tôi đứng ở cửa buồng rất lâu, không nói gì, rồi đi qua buồng giữa, nhưng tôi nghe bà không đóng cửa, và tôi biết bà cũng không ngủ.
Tôi định thức cả đêm. Nhưng tôi mệt, và tôi thiếp đi lúc nào không biết.
Tôi tỉnh dậy vì một âm thanh. Một tiếng thở. Không phải tiếng thở đều của người ngủ. Nó khò khè, rít lên, nặng nhọc, như có ai kéo một cái cưa cùn qua một khúc gỗ ướt. Đúng như má chồng tôi tả. Như người ngáy, mà to, mà gấp.
Tiếng thở đó phát ra từ Kiết.
Tôi quay sang. Buồng tối, chỉ có chút ánh sáng xanh xám của trăng hắt qua khe cửa sổ. Và trong ánh sáng ấy, tôi thấy có người đang quỳ trên giường, ngay bên cạnh chồng tôi.
Một người đàn bà. Tóc dài, ướt sũng, xõa xuống che kín mặt, nước từ đuôi tóc nhỏ tong tong xuống ngực áo Kiết. Áo bà ba sẫm màu, dính sát vào người. Hai tay chị ta chồng lên nhau, đặt giữa ngực chồng tôi.
Và chị ta đang ấn xuống.
Ấn. Nhả. Ấn. Nhả. Đều đặn, mạnh, nhanh, cả người đổ xuống theo từng nhịp. Giường kêu cót két. Người Kiết dội lên dội xuống dưới đôi tay ấy, đầu anh lắc lư trên gối, mắt nhắm nghiền, miệng há ra.
Tôi hét lên.
Tôi không nhớ mình hét cái gì. Tôi chỉ nhớ tôi lao tới, hai tay chụp vào chỗ người đàn bà đang quỳ. Tay tôi chạm vào khoảng không. Lạnh. Lạnh như thọc tay xuống chum nước giữa đêm. Rồi không còn gì nữa. Không có ai quỳ trên giường. Chỉ có chồng tôi nằm đó.
Kiết hít vào một hơi dài, rất dài, cái hơi của người vừa ngoi lên khỏi mặt nước. Rồi anh ho sặc sụa, mở mắt ra.
– Gì… gì vậy em?
Đèn bật. Má chồng tôi đứng ở cửa buồng, tay còn đặt trên công tắc, mặt bà không còn chút máu nào. Sau lưng bà, Bự đứng dụi mắt.
Kiết ngồi dậy, tay ôm ngực, thở hổn hển.
– Anh mơ. – Anh nói. – Anh mơ bị đè. Có ai ngồi trên ngực anh, nặng lắm. Anh không thở được.
Áo anh ướt đẫm. Không phải ướt mồ hôi. Ướt một vệt dài từ cổ xuống tới bụng, đúng chỗ có người đã quỳ, và cái vệt ấy có mùi sông.
Má chồng tôi bước vô buồng, ngồi phịch xuống mép giường, nắm lấy tay con trai bà. Bà không khóc. Bà nhìn ra cửa sổ, về phía cầu bến, và nói, giọng khàn đặc, như nói với ai đó ngoài kia:
– Nó tới rồi. Tao biết thế nào nó cũng tới mà.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe