Chương 4: Sáu mươi triệu và gánh bánh đa
Cái đầu kéo nằm chết ở góc bãi container đã ba ngày, đầu chúi xuống như con trâu già quỵ gối.
Bãi xe của chị Quế Lâm nằm sát đường vào cảng Đình Vũ, một khoảng đất rộng rải đá dăm, quây tôn xung quanh, mười hai chiếc đầu kéo đỗ thành hàng. Tôi biết chị qua ông Giáp. Ông bảo bà ấy có cái xe nằm đấy, hai gara thay hết nửa cái máy mà vẫn gõ, bà ấy chửi cả hai thằng thợ đến mức không ai dám nhận nữa. Mày thích thì xuống thử, ông nói, đừng có kêu tao giới thiệu.
Mười giờ đêm, tôi xuống. Chị Quế Lâm ngồi trên cái ghế xếp cạnh xe, mặc áo khoác gió, hút thuốc lá cuộn. Chị ngoài bốn mươi, người to, tóc cắt ngắn như đàn ông, giọng khàn đặc.
– Thằng Giáp bảo mày giỏi. – Chị nhìn tôi từ đầu đến chân. – Giỏi thì nổ máy lên nghe đi. Tao nghe tiếng gõ ba hôm nay, tao muốn đập luôn cái xe.
Tôi trèo lên ca bin, nổ máy. Tiếng máy dầu rền lên, rồi trong cái rền ấy có một tiếng gõ, đều, khô, theo nhịp vòng tua. Tôi đạp ga lên một chút. Tiếng gõ nhanh lên. Nhả ga. Chậm lại. Tôi tắt máy, trèo xuống, mở nắp bình nước phụ, bảo chị Lâm bật đèn pin soi vào.
– Nổ lại đi chị.
Chị trèo lên ca bin, nổ máy. Tôi cúi sát miệng bình nước. Mười giây. Hai mươi giây. Rồi từ đáy bình, những bọt khí nhỏ li ti sủi lên, đều đặn, như ai đang thổi ống hút vào cốc nước.
– Tắt đi chị.
Máy tắt. Bãi xe im phăng phắc, chỉ còn tiếng còi tàu xa xa ngoài cảng.
– Thổi gioăng mặt máy. – Tôi nói. – Khí nén lọt sang đường nước. Cái tiếng gõ là vì máy số bốn bị thiếu, nước vào buồng đốt. Hai gara trước thay kim phun, thay bơm cao áp, nhưng không ai mở mặt máy.
Chị Lâm nhìn tôi, rít một hơi thuốc.
– Chắc không?
– Chắc. Nhưng phải mở ra mới biết mặt máy có cong không. Cong thì phải mang đi láng.
– Bao lâu?
– Làm suốt đêm, mai trưa xe chạy. Không cong thì thế.
Chị không nói gì, đứng dậy, đi vào cái chòi tôn ở góc bãi, bê ra một cái phích nước nóng và một gói mì tôm.
– Làm đi. Đói thì ăn.
Tôi làm đến năm giờ sáng. Mặt máy không cong. Cái gioăng cũ khi tháo ra bị cháy một vệt đen sì giữa máy ba và máy bốn, đúng như tôi nghĩ. Tôi thay gioăng, siết bu lông mặt máy theo thứ tự chéo, từng lực một, như bố tôi dạy siết những cái đai sắt trên bánh xe bò. Sáu giờ, tôi nổ máy. Tiếng máy rền đều, không còn một tiếng gõ.
Chị Quế Lâm đứng nghe một lúc lâu. Rồi chị gật đầu.
– Mười hai cái xe. – Chị nói. – Mày bảo dưỡng cho tao hết, tháng một lần. Tiền công tính theo xe. Được không?
– Được ạ. – Tôi nói. – Chị cho em ứng trước ba tháng tiền công được không?
Chị nheo mắt nhìn tôi.
– Mày nợ ai à?
– Nợ một người anh. Em muốn trả cho sòng phẳng.
Chị Quế Lâm im một lúc. Rồi chị đi vào chòi tôn, lấy ra một xấp tiền buộc dây chun, đếm, đưa cho tôi ba mươi triệu.
– Tao lái đầu kéo mười lăm năm mới có cái bãi này. – Chị nói. – Người nợ tiền thì tao gặp nhiều. Người muốn trả sòng phẳng thì ít. Mày viết cho tao cái giấy.
Tôi viết giấy nhận tiền ngay trên nắp ca pô. Chị cầm, gấp, nhét vào túi áo khoác.
Năm tuần sau đó, tôi sống hai cuộc đời. Ban ngày ở gara, sửa xe khách lẻ, xe quen của ông Giáp giới thiệu sang, xe của mấy người bán hàng ngoài chợ Sắt. Ban đêm ở bãi container, nằm dưới gầm những chiếc đầu kéo, tay đen đến khuỷu. Tôi ngủ mỗi đêm ba tiếng trên cái giường xếp. Có hôm mẹ mang cơm xuống tận bãi, cặp lồng nhôm ba ngăn, ngăn dưới cơm, ngăn giữa cá kho, ngăn trên rau muống luộc. Chị Quế Lâm ngồi ăn cùng, khen cá kho mẹ tôi ngon, rồi đòi mẹ dạy.
Khôi không mang xe bảo hiểm nào về nữa. Ba tuần, rồi bốn tuần. Anh ta vẫn ghé gara, vẫn cười, vẫn mang bánh mì cay, nhưng không nhắc tới chuyện khách bảo hiểm. Cái im lặng ấy làm tôi sợ hơn cả lúc anh ta chìa tờ báo giá. Kiếp trước, chưa bao giờ Khôi bỏ qua một tháng nào không có hồ sơ. Nếu không có ở đây, thì nó phải đang ở chỗ khác.
Có một lần, Nhã Đan ghé gara vào giờ nghỉ trưa, dắt theo chiếc xe máy số cũ bị chết máy giữa đường. Tôi tháo bugi ra, muội đen kịt. Tôi cạo, chỉnh lại khe hở, lắp vào, đạp một phát là nổ. Cô hỏi bao nhiêu, tôi bảo không lấy tiền. Cô đứng nhìn cái kệ sắt trong kho, chỗ những phụ tùng cũ xếp theo ô, mỗi cái mang ba chấm lõm.
– Ba chấm này là gì anh?
– Dấu của bố tôi. Cái gì qua tay mình thì gõ vào, để sau này nhận ra.
Cô gật đầu, không hỏi thêm. Nhưng trước khi đi, cô cúi xuống nhìn kỹ một cái rô tuyn, nhìn rất lâu, như người ta cố nhớ một khuôn mặt.
Một buổi tối giữa tháng Năm, tôi về nhà sớm thì thấy Liên Hương ngồi ở bậc cửa, tay cầm một tờ giấy gấp đôi. Nó giấu ra sau lưng khi thấy tôi.
– Cái gì đấy?
– Không có gì.
Tôi chìa tay. Nó nhìn tôi một lúc, rồi đưa. Tờ đơn xin việc của một công ty may trong khu công nghiệp. Họ tên, ngày sinh, trình độ học vấn: tốt nghiệp trung học phổ thông. Năm tốt nghiệp: 2016. Nó đã điền xong, chỉ chưa ký.
Tôi đứng im. Tôi đã nhìn thấy tờ giấy này rồi. Kiếp trước, năm 2019, nó cũng điền một tờ y hệt, chữ y hệt, chỉ khác năm.
– Em đi làm hai năm, lấy tiền rồi đi học sau. – Liên Hương nói, giọng nhỏ. – Anh nợ anh Khôi tiền mổ cho mẹ. Anh làm cả ngày lẫn đêm. Em thấy mà.
Tôi ngồi xuống bên cạnh em. Tôi chìa hai bàn tay ra trước mặt nó. Lòng bàn tay chai, móng đen dầu, một vết bỏng nhỏ mới ở cổ tay vì chạm vào ống xả.
– Em nhìn đây. – Tôi nói. – Tay anh làm ra tiền. Nó làm được. Còn đầu em thì để học. Nợ là nợ của anh. Tuần sau anh trả xong.
– Thật không?
– Thật. Em mà ký tờ này thì anh xé.
Liên Hương nhìn tôi, rồi nhìn tờ giấy, rồi bật cười, cái cười mếu máo của đứa con gái mười bảy tuổi.
– Anh dạo này lạ lắm. Nói chuyện như ông cụ.
Cuối tháng Năm, tôi mời Khôi về nhà ăn cơm.
Mẹ nấu bánh đa cua, món Khôi thích nhất từ hồi còn học rèn ở nhà tôi. Mẹ giã cua đồng từ sáng, lọc lấy nước, đun riêu, gạch cua vàng ươm nổi từng mảng. Bánh đa đỏ trụng qua nước sôi, rau rút, rau muống chẻ, chả lá lốt. Khôi ngồi ăn, xuýt xoa, khen mẹ tôi nấu không ai bằng.
Ăn xong, tôi đặt lên bàn một cái phong bì giấy xi măng dày cộm.
– Anh Khôi. Sáu mươi triệu tiền mổ của mẹ em. Em gửi anh. Anh đếm lại giùm em.
Khôi nhìn cái phong bì. Rồi nhìn tôi. Rồi nhìn mẹ.
Mẹ đang dọn bát, tay dừng lại.
– Gì thế này Kháng? – Khôi cười, nhưng cái cười không lên tới mắt. – Anh đã đòi đâu.
– Anh không đòi, nhưng em phải trả. Mẹ em dặn anh em sòng phẳng mà.
Khôi cầm phong bì, ước lượng trong tay. Anh ta không đếm. Anh ta đặt nó xuống.
– Tiền ở đâu ra mà nhanh thế?
– Em làm cho bãi container chị Quế Lâm. Bảo dưỡng mười hai cái đầu kéo. Chị ấy cho ứng trước.
Một cái gì đó lướt qua mặt Khôi. Rất nhanh. Như cái bóng con chim lướt qua mặt sân.
– Ừ. Mày giỏi. – Anh ta nói.
Tôi lấy từ túi áo ra một tờ giấy trắng và cây bút, đặt trước mặt anh ta.
– Anh viết cho em cái giấy đã nhận đủ. Để mẹ em cất.
Lần này Khôi không cười. Anh ta nhìn tờ giấy trắng rất lâu. Rồi anh ta cầm bút, viết. Chữ nghiêng, to, xiêu vẹo.
"Tôi Hoàng Bá Khôi đã nhận đủ sáu mươi triệu đồng của em Đàm Đình Kháng, là tiền tôi cho mượn để chữa bệnh cho bác Nhuận năm 2015. Từ nay không còn nợ nần gì."
Anh ta ký, đẩy tờ giấy về phía tôi. Rồi anh ta đứng dậy, cầm phong bì, cảm ơn mẹ tôi bữa bánh đa, đi ra cửa. Ở bậc cửa, anh ta dừng lại, quay đầu.
– Mày lớn thật rồi Kháng ạ.
Anh ta đi. Mẹ đứng ở bàn, tay vẫn cầm chồng bát.
– Thằng Khôi nó buồn. – Mẹ nói.
– Vâng.
– Mày làm thế là đúng. Nhưng nó buồn. – Mẹ đặt chồng bát xuống. – Mẹ nuôi nó ba năm, mẹ biết mặt nó lúc buồn.
– Mẹ ơi. – Tôi nói. – Nợ tiền thì trả được. Còn cái nợ mà người ta không cho mình trả, mới khó.
Mẹ nhìn tôi, lâu, như nhìn một người lạ vừa nói giọng con mình. Rồi mẹ cầm tờ giấy biên nhận lên, gấp làm tư, đi lên gác. Tôi lại nghe tiếng nắp hũ sành kêu cạch.
Một tuần sau, Lục Nhã Đan đến gara lúc sáu giờ chiều, khi tôi đang đóng cửa cuốn.
Lần trước cô đến bằng xe máy số cũ, mặc sơ mi trắng. Lần này cô vẫn đi chiếc xe ấy, vẫn mặc sơ mi trắng, nhưng không mang túi đồ nghề. Cô chỉ cầm một tập hồ sơ kẹp trong bìa nhựa xanh.
– Anh Kháng. – Cô nói, không chào. – Em hỏi anh một chuyện, anh trả lời thật nhé.
– Em hỏi đi.
Cô mở bìa hồ sơ, rút ra một tờ giấy, chìa về phía tôi. Một hóa đơn sửa chữa. Tiêu đề in: Gara Kháng. Biển số một chiếc xe con màu đen. Hạng mục: thay cụm cản trước, két nước, giàn nóng điều hòa, đèn pha hai bên, càng chữ A bên phải, bát bèo trước phải. Tổng cộng bảy mươi tư triệu. Ngày sửa: hai mươi tháng Năm năm 2016. Phía dưới, chỗ chủ gara, có một chữ ký.
Chữ ký của tôi. Giống đến từng nét móc cuối.
– Chiếc xe này, – Nhã Đan nói, – sửa ở gara anh ngày hai mươi tháng Năm?
Tôi nhìn biển số. Tôi nhìn ngày tháng. Hai mươi tháng Năm, tôi ở bãi container của chị Quế Lâm từ chín giờ tối hôm trước đến sáu giờ sáng hôm ấy. Ban ngày, gara có bốn chiếc xe, tôi nhớ từng chiếc.
Không có chiếc nào màu đen.
— Hết chương 4 —

⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không
⏳ Trọng sinh & xuyên không🎧 Nghe