Chương 3: Đường mòn lên lưng đảo
– Không vào hang được thì mình lên trên. – Bỏng nói, chìa cuốn sổ ra cho Cồi coi hình vẽ. – Cái khe trên đỉnh vách. Đảo thở ra đằng đó, đúng không? Nếu có cái gì làm nó nghẹt, thì nhìn từ trên xuống là thấy.
Cồi nhìn hình vẽ. Nhìn cái sợi xanh lè Bỏng vẽ ở mép hang. Rồi gãi đầu.
– Có đường mòn lên lưng đảo. Người ta lên đó lượm củi. Tao đi với ba mấy lần rồi.
Lần này ông Sáu gật đầu nhanh hơn. Cái khe thở không nằm ngay mép vách, mà lùi vào trong một quãng, nằm trong một cái hõm đá. Ông dặn đúng một câu, dặn hai lần: đứng xa mép vách, xa cỡ mười bước người lớn. Ông còn bắt Cồi đeo cái túi có chai nước với nắm xôi bà nội gói, và bắt Bỏng đội nón.
Đường mòn bắt đầu sau lưng làng, chui vào một cánh rừng nhỏ. Ở đây cây không cao lắm, vì gió biển quanh năm thổi rạp. Cây phi lao lá nhọn như kim, rụng xuống đất thành một lớp nệm nâu, đi êm ru. Hai bên đường là những bụi dứa dại, lá dài có gai móc câu ở mép, trái chín vàng cam như trái thơm nhưng ăn không được. Con Ki chạy trước, đuôi ngoe nguẩy, lâu lâu dừng lại đánh hơi một gốc cây.
– Đứng im! – Cồi chụp tay hai đứa em.
Trên một tảng đá phẳng giữa đường, một con vật dài cỡ cánh tay đang nằm phơi nắng. Da nó xám đốm vàng, cái lưỡi chẻ đôi thè ra thụt vào, nhanh như chớp. Con Ki gầm gừ.
– Kỳ đà. – Cồi nói khẽ. – Nó hiền, mà mình làm nó sợ là nó quất đuôi. Đứng im cho nó đi.
Ba đứa đứng im. Con kỳ đà nghiêng đầu nhìn tụi nó một lúc, rồi thong thả bò xuống, đuôi kéo lê trên lá phi lao, sột soạt, chui vào bụi dứa dại.
Nhum thở phào, rồi thì thầm:
– Nó đi giống ông Sáu đi chợ.
Bỏng phải bịt miệng mới khỏi cười to.
Càng lên cao, đường càng khó đi. Rồi tới một chỗ cả ba đứa đều khựng lại. Một cây phi lao lớn ngã chắn ngang đường, gốc bật lên khỏi đất, rễ chĩa ra tua tủa như cái chổi. Chắc là do trận bão tháng trước. Sau cây đổ, đường mòn biến mất, chỉ còn lá cây và cành gãy ngổn ngang. Có hai lối mở ra: một lối sang trái, một lối sang phải, lối nào cũng có vẻ giống đường người đi.
– Bên nào? – Bỏng hỏi.
Cồi nhìn trái. Nhìn phải. Rồi nhìn xuống chân.
– Hồi đi với ba, có cây này đứng đó, ba dắt tao đi vòng bên… – Cồi ngập ngừng. – Bên… tao hông nhớ.
Nhum chỉ bên trái. Con Ki chạy bên phải. Cồi đứng giữa, mặt nhăn như trái táo khô.
– Hay là nghe đảo thở? – Nhum đề nghị. – Đi theo tiếng thở.
– Đảo hết thở rồi mà. – Cồi nói, hơi gắt.
Bỏng không nói gì. Bỏng ngẩng lên nhìn trời qua tán lá phi lao. Rồi nhìn xuống đất. Rồi nhìn cái bóng của chính mình.
– Bây giờ là buổi sáng, phải không?
– Thì sao?
– Buổi sáng, mặt trời mọc ở đằng đông. Bóng mình đổ về đằng tây. – Bỏng chỉ xuống cái bóng dài của mình trên lá phi lao, đổ về một phía. – Ở trường tớ học rồi. Làng mình ở phía nam đảo, Gành Thở ở phía bắc. Đi về phía bắc thì phải để mặt trời bên tay phải, bóng mình nằm bên tay trái.
Cồi nhìn Bỏng. Rồi nhìn cái bóng. Rồi quay người cho mặt trời nằm bên tay phải.
– Vậy là đi thẳng lên kia. – Cồi chỉ. – Hông phải bên trái, cũng hông phải bên phải. Đi thẳng, qua mấy cái cành gãy.
Ba đứa leo qua thân cây đổ, lách qua những cành gãy. Con Ki nhảy qua nhảy lại. Được một quãng, đường mòn lại hiện ra dưới chân, lá phi lao nằm rạp thành một vệt mòn quen thuộc.
– Đúng rồi! – Cồi reo lên. – Đây nè! Tao nhớ cái gốc cây có cái bọng này!
Cồi quay lại, nhìn Bỏng bằng một cái nhìn khác hẳn hôm trước, hôm cười Bỏng mặc áo phao đi ăn sáng.
– Ở Hà Nội tụi mày học cái đó hả?
– Học trong sách. – Bỏng nói. – Nhưng chưa bao giờ dùng thật.
– Giờ dùng thật rồi đó.
Lên tới lưng đảo, rừng thưa dần, chỉ còn đá và cỏ lông chông. Gió thổi lồng lộng, mát rượi, mang theo mùi muối. Đứng ở đây thấy được cả biển, xanh thăm thẳm, lấp lánh tới tận chân trời. Thấy cả làng bên dưới, mái tôn xanh đỏ, những chiếc ghe nằm nghiêng trên bãi. Bỏng đứng sững lại, quên cả lấy sổ ra.
Cái hõm đá nằm cách mép vách xa lắm, đúng như ông nói. Ba đứa đi tới, đứng quanh. Giữa hõm đá có một cái khe nứt, to cỡ cái miệng lu, sâu hun hút. Mép khe đá nhẵn thín, như bị hơi nước và gió mài suốt bao nhiêu năm.
Nhưng miệng khe không trống.
Nó bị nhét đầy rác. Một cái thùng xốp trắng vỡ đôi kẹt ngang. Mấy cái chai nhựa, chai đựng dầu nhớt, chai nước ngọt. Một khúc dây thừng xanh dương. Và nhiều nhất là lưới: những đám lưới cước màu xanh lè, rối nùi, quấn lấy mọi thứ khác như một tổ chim khổng lồ, trám kín cái khe.
– Trời đất. – Cồi nói.
– Rác này ở đâu ra? – Bỏng hỏi. – Ai mang lên tận đây mà vứt?
Cồi quỳ xuống, nhìn kỹ.
– Hông ai mang lên. Nó từ dưới lên. – Cồi nói. – Bão lớn, sóng đánh vô hang mạnh lắm, nó dồn hết rác ngoài biển vô trong, rồi phụt lên. Phụt tới chỗ hẹp nhất của cái khe thì kẹt lại.
Bỏng ngồi xuống cạnh Cồi. Ghé tai sát xuống. Từ sâu dưới đám rác, có một tiếng gì rất khẽ. Xì… xì… Như hơi thở của một người bị bịt miệng.
– Nó còn thở. – Bỏng nói. – Nhưng không thở ra được.
Nhum ngồi chồm hổm, chống cằm.
– Vậy mình gỡ ra cho nó thở.
Bỏng định nói gì đó, thì nhận ra Cồi không nghe nữa. Cồi đang nhìn chằm chằm vào một chỗ trong đám rác. Ở đó, kẹt giữa hai lớp lưới xanh, có một cái phao tròn màu cam, to bằng trái dừa, đã bạc màu vì nắng. Trên mặt phao có mấy vết khắc nguệch ngoạc, khắc bằng mũi dao.
Ba chữ cái. C. Ồ. I.
Cồi đứng dậy. Mặt Cồi trắng bệch.
– Về thôi. – Cồi nói, giọng khác hẳn.
– Ơ, nhưng mà…
– Về!
Cồi quay lưng đi xuống dốc, đi nhanh, không ngoái lại. Con Ki chạy theo, ngơ ngác. Bỏng nhìn cái phao cam. Rồi nhìn cái lưng của anh họ đang mỗi lúc một xa.
Suốt đường về, Cồi không nói thêm một tiếng nào.
— Hết chương 3 —

🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe