Chương 3: Lửa ngủ trong cát
Chúng tôi ngồi trong quán nước đầu chợ, cái quán lợp lá dừa có hai cái bàn gỗ và một ấm trà xanh đặc chát. Ông Phước gọi hai ly cà phê đen rồi không uống ly nào. Ông xoay cái ly trong tay rất lâu trước khi nói.
– Mười bảy tấm ảnh đó là của ông Thơ chụp, thợ ảnh tiệm ngoài ngã ba. Hồi đó ban quản lý chợ thuê ổng chụp để làm hồ sơ xin tiền xây lại. Ảnh nằm trong tủ ban quản lý hai mươi mấy năm. Em lên làm trưởng ban năm 2019. Em lục ra năm 2020. Em ngồi coi cả buổi.
Ông ngừng. Ngoài kia một chiếc xe ba gác chở đá chạy ngang, rung cả mặt bàn.
– Em biết chị làm nghề gì, em kiếm được trên mạng. Em gửi phong bì hồi tháng trước. Em tính, nếu chị không vô, thì thôi, chợ phá là xong, cái cột đó đi luôn. Nếu chị vô, thì là ông trời muốn.
– Đêm đó anh bao nhiêu tuổi?
– Mười lăm.
Ông Ba Tạo sang chiết gas lậu từ năm 1996. Tối nào chợ đóng, ông kéo tấm bạt che kín sạp, thắp cây đèn pin kẹp miệng, ngồi bên bình lớn sang từng bình nhỏ. Thằng Phước mười lăm tuổi cầm đèn cho cha. Đêm hai mươi ba tháng Chạp, hàng Tết bán chạy, cha con làm muộn tới gần hai giờ. Cái đầu nối bằng đồng bị lỏng, gas xì ra từ lúc nào không ai để ý, đọng dưới gầm sạp vì gas nặng hơn không khí. Đèn pin hết pin. Ông Ba Tạo đi ra phía sau lấy pin dự phòng. Thằng Phước ngồi trong bóng tối, sốt ruột, móc trong túi ra cái hộp quẹt máy nó mới mua lén để tập hút thuốc với bạn.
Nó bật lửa lên để soi cái van.
– Cái bụp ông Chẩn nghe đó, là em, – ông Phước nói. – Lửa trùm lên tay em. Cha em kéo em ra. Rồi lửa chạy theo cái bạt, theo mấy cây vải trên sạp 39, rồi qua sạp má chị. Cha em đứng ngoài đường nhìn chợ cháy, ôm em, tay em bọc trong cái áo cha. Cha nói với em đúng một câu: con không có ở đây, con nghe chưa, con ở nhà ngủ.
Rồi ông Ba Tạo đi khai với công an là ông thấy lửa bùng ở sạp 41 trước tiên.
– Ổng không có ghét má chị đâu chị, – ông Phước nói, mắt vẫn không rời cái ly. – Ổng chọn sạp má chị vì sạp đó có cái bếp dầu. Ai cũng biết. Ổng chọn cái lời nghe xuôi tai nhứt. Ổng sợ con ổng ở tù. Ổng sợ người ta lục ra vụ sang gas, mất sạp, mất nhà, mất hết.
Sáng hôm sau, cha chở ông ra Quy Nhơn gửi nhà người bà con, nói thằng nhỏ bị nồi nước sôi đổ. Lúc ông về, má tôi đã đi bán nhà.
– Mười một năm sau cha em mất. Cha em bị ung thư gan, nằm cả năm trời. Có hôm cha khóc, nói: tao nợ bà Nguyệt sáu cây vàng với cả cái tên. Rồi cha dặn em, đừng có nói. Tới lúc chết cha vẫn dặn đừng có nói.
– Vậy sao bây giờ anh lại nói?
Ông Phước ngẩng lên. Mắt ông đỏ, nhưng giọng thì không run.
– Con gái em năm nay mười lăm tuổi, chị. Tháng trước nó đi học về khóc, nói bạn trong lớp làm vỡ cái máy chiếu rồi đổ cho nó, cô giáo tin bạn kia vì bạn kia đứng gần. Em ngồi nghe con em kể mà em không thở được.
Tôi đã tưởng tượng giây phút này nhiều lần. Trong tưởng tượng, tôi giận dữ, tôi đập bàn, tôi bắt người ta quỳ trước di ảnh của má. Nhưng người ngồi trước mặt tôi không phải ông Ba Tạo. Đó là một thằng nhỏ mười lăm tuổi bật cái hộp quẹt trong bóng tối, rồi mang bàn tay phỏng ấy đi suốt hai mươi tám năm.
– Chuyện đã quá lâu, – tôi nói. – Về luật thì không còn truy cứu ai được nữa. Anh biết chứ?
– Em biết. Em hỏi luật sư rồi.
– Vậy anh tính làm gì?
Ông Phước rút trong túi áo ra một tờ giấy gấp tư. Đó là bản tường trình viết tay, ba trang, ký tên, ghi rõ ngày tháng. Ông nói ông đã nộp một bản cho công an phường từ tuần trước. Họ đã nhận, đã ghi vào hồ sơ lưu, và hẹn sẽ mời chị làm việc để đối chiếu với kết quả giám định độc lập nếu chị đồng ý cung cấp. Ông nói thứ Sáu này, trước ngày phá chợ, ban quản lý họp tiểu thương để bốc thăm sạp mới.
– Em sẽ đứng lên đọc cái này trước bà con. Còn chuyện sáu cây vàng, em gom đủ rồi, theo giá bây giờ. Chị nhận hay không là quyền của chị.
Tôi gấp tờ giấy lại, trả cho ông.
– Anh đọc đi. Tôi sẽ ngồi nghe.
Chiều thứ Sáu, bãi chợ tạm đông hơn mọi ngày. Người ta ngồi trên những cái ghế nhựa xanh đỏ kê thành hàng dưới tấm bạt lớn, quạt phành phạch bằng nón lá. Có những gương mặt tôi nhận ra sau hai mươi tám năm. Bà bán gạo sạp 22. Cô bán nồi niêu sạp 40, ngày xưa còn bế đứa con nhỏ trên tay. Ông Chẩn ngồi hàng đầu.
Ông Phước đứng lên. Ông đọc chậm, không vấp chữ nào. Khi ông đọc tới đoạn bật hộp quẹt, cả bãi chợ im phăng phắc, chỉ còn tiếng gió biển đập vào tấm bạt. Bà Ba Tạo ngồi ở góc cuối, hai tay bóp chặt cái nón lá, không ngẩng đầu.
Đọc xong, ông Phước cúi đầu rất lâu. Không ai vỗ tay. Không ai la ó. Một lúc sau, bà bán gạo sạp 22 đứng dậy, đi tới chỗ tôi ngồi, nắm lấy tay tôi bằng hai bàn tay khô như vỏ cây.
– Hồi đó má con chia cho tao một cây vàng, – bà nói. – Tao cầm mà tao không dám nhìn mặt bả. Tao tưởng bả có tội thiệt. Con cho tao xin lỗi bả.
Rồi cô bán nồi niêu tới. Rồi một ông tôi không nhớ tên. Rồi nhiều người nữa.
Tôi không nhận sáu cây vàng. Tôi nói với ông Phước, nếu ông muốn trả, thì trả cho cái quỹ mà ban quản lý đang lập để mua bình chữa cháy và lắp hệ thống báo khói cho chợ mới, sao cho mỗi dãy có một cái vòi nước kéo ra được dễ dàng, đừng để ông bảo vệ nào phải phỏng tay vì một cái vòi bị kẹt nữa. Ông Phước gật đầu, không nói gì.
Lúc bốc thăm sạp mới, người ta dành ra một ô ở dãy B tầng trệt, đánh số 41, ghi tên người đứng sạp là Lư Thị Nguyệt. Cô bán nồi niêu nói sẽ trông giùm, bày vài cây vải cho có, coi như má tôi vẫn còn bán ở đó.
Hôm phá chợ, tôi không ở lại xem. Sáng sớm, trước khi lên xe về Đà Nẵng, tôi xuống bãi Gò Muối, xúc một bọc cát biển đựng trong cái túi vải.
Tối hôm đó, tôi lấy cái lư hương bằng đồng trên bàn thờ má xuống, đổ hết tàn nhang cũ, lót vào đó một lớp cát mới. Tôi đặt tấm ảnh số mười bốn dựng cạnh di ảnh. Cái xô thiếc, cái bếp chôn tới cổ, lớp cát lưng lửng má vỗ mỗi chiều.
Tôi đốt ba nén nhang, cắm xuống cát. Khói lên thẳng một sợi, không lay. Tôi vỗ nhẹ lên mặt cát, ba cái, như má vẫn làm.
— Hết —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám