Chương 2: Cây cột giữa hai sạp
Chợ Gò Muối sẽ bị phá dỡ vào thứ Hai tuần sau để xây chợ mới hai tầng. Tôi biết chuyện đó khi gọi điện về hỏi thăm một bà cô họ còn ở xóm Lưới. Bà nói người ta đã căng dây, dời hàng ra bãi đất trống cạnh trạm y tế phường, chỉ còn cái khung chợ cũ trơ đó chờ máy múc.
Tôi xin nghỉ ba ngày, chạy xe vào.
Hai mươi tám năm, đường vào chợ đã trải nhựa, nhưng mùi thì không đổi. Mùi cá cơm phơi, mùi nước mắm từ mấy cái lu đầu xóm, mùi gió biển mặn chát lùa qua những khung sắt rỉ. Chợ cũ không còn ai bán. Những tấm tôn mới thay sau vụ cháy giờ cũng đã thủng lỗ chỗ, nắng rọi xuống thành từng đốm tròn trên nền xi măng.
Ông trưởng ban quản lý chợ ra đón tôi tận đầu dãy B. Ông ngoài bốn mươi, người gầy, sơ mi trắng sơ vin. Ông tự giới thiệu tên Lâm Hữu Phước.
– Dạ, nghe chị nói làm giám định, em cũng hơi bất ngờ, – ông nói, giọng Quảng Ngãi đặc. – Chợ này tuần sau phá rồi, có gì chị cần coi thì coi cho kỹ. Em mở dây cho chị vô.
Tôi không nói với ông tôi là ai. Tôi chỉ nói công ty tôi đang làm một nghiên cứu về các vụ cháy chợ cũ ở miền Trung, cần đối chiếu hiện trường thật. Ông không hỏi thêm. Ông dắt tôi qua dãy A, rẽ trái, rồi dừng lại.
– Đây. Dãy B. Hồi xây lại sau vụ cháy chín tám, người ta giữ nguyên cột, chỉ thay mái với sạp thôi.
Tôi đứng ở chỗ ngày xưa là sạp 41. Giờ chỉ là một ô xi măng trống, có ai bỏ lại một cái ghế nhựa đỏ gãy chân. Cây cột giữa sạp 37 và 39 vẫn ở đó, cách tôi bốn bước. Người ta đã quét vôi vàng lên nó ít nhất hai lần. Nhưng vôi không giấu được bê tông.
Tôi lấy cây búa nhỏ gõ nhẹ quanh chân cột. Ở phía mặt quay về sạp 37, tiếng gõ đục, bộp bộp, lớp vữa bong ra từng mảng dưới lớp vôi. Ở phía quay về sạp 41, tiếng gõ chắc và trong. Tôi cạo lớp vôi ở mặt bên kia, lấy cây đinh dò vào chỗ bê tông bị nung. Lớp bị hỏng ăn sâu gần hai phân ở chân cột phía sạp 37, mỏng dần lên trên, và gần như không có ở phía sạp 41.
Lửa đã ngồi rất lâu ở chân cây cột này, phía sạp 37. Lâu hơn bất cứ đâu.
Ông Phước đứng sau lưng tôi suốt lúc đó, không nói một câu.
– Chị coi ra được gì không chị?
– Ra được chỗ lửa thích nhất, – tôi đáp.
Ông cười, một cái cười ngắn, rồi quay đi nhìn ra phía biển.
Buổi chiều tôi đi tìm ông Chẩn. Người bảo vệ năm xưa giờ đã gần tám mươi, sống với con gái trong một căn nhà cấp bốn sau đình. Bàn tay trái của ông vẫn còn những vệt da co rúm, bóng như giấy kính, từ cổ tay tới mấy đầu ngón. Ông ngồi trên võng, nhìn tôi nheo nheo một hồi lâu.
– Con là con bà Nguyệt bán vải phải không? Cái mặt y chang.
Tôi không chối nữa.
Ông Chẩn kể, đêm đó ông đi tuần vòng thứ ba, khoảng một giờ bốn mươi. Đi ngang dãy B thì ông ngửi thấy mùi.
– Mùi trứng thối. Hôi nồng. Ông tưởng chuột chết. Rồi ông đi qua dãy C. Chừng mười lăm phút sau, ông nghe cái bụp. Không lớn lắm, như ai đập cái bao giấy. Rồi lửa lên.
– Mùi đó ông có khai với công an không ông?
– Có chớ. Ông khai hết. Nhưng mà con nghĩ coi, đêm ông Táo, nhà nào cũng nấu nướng, khói nhang khói bếp mù mịt, ai biết mùi đâu ra. Còn ông Ba Tạo thì khai rõ ràng là thấy lửa ở sạp má con trước. Ổng đứng gần nhứt. Mấy cậu công an hồi đó cũng tận tình lắm, hỏi tới hỏi lui cả tuần. Mà người ta tin người đứng gần nhứt thôi con.
Mùi trứng thối. Dầu hôi không có mùi đó. Mùi trứng thối là chất tạo mùi người ta pha vào khí gas để ai cũng ngửi ra khi nó rò.
Tối đó, ở nhà nghỉ, tôi bày lại mười bảy tấm ảnh lên giường. Tấm số chín chụp sạp 37 của ông Ba Tạo. Biên bản năm đó liệt kê: hàng tạp hoá, thuốc lá, bánh kẹo, nước ngọt, một số bình gas mini để bán. Những thứ đó đều hợp lệ. Nhưng trong ảnh, giữa đống lon méo mó, tôi đếm được ít nhất mười một cái vỏ bình gas mini phình bụng, van bung ra. Và nằm ngang phía sau, gần chân cây cột, là một bình gas lớn loại mười hai ký, vẫn còn dính một đoạn dây dẫn và một cái đầu nối nhỏ bằng đồng.
Bình gas lớn không có lý do gì để nằm trong một sạp tạp hoá giữa chợ, nối vào một cái đầu nối như thế. Trừ khi người ta dùng nó để sang chiết gas vào những bình mini cũ, rồi bán lại. Hồi đó chuyện này ở các chợ quê không hiếm. Làm ban đêm, sau khi chợ đóng cửa.
Sáng hôm sau, tôi gặp bà Ba Tạo ở bãi chợ tạm. Bà vẫn bán khô mực, cá chỉ vàng, mắt kém đến mức phải cầm từng xâu mực đưa sát lên mũi. Ông Ba Tạo mất năm 2009. Tôi hỏi bà có nhớ đêm cháy chợ không. Bà nhìn tôi rất lâu, rồi nói một câu không ăn nhập gì.
– Ổng đi rồi. Có gì thì con hỏi thằng Phước.
Tôi không hiểu. Tôi nói tôi chỉ muốn hỏi bà.
– Thằng Phước, – bà lặp lại, rồi cúi xuống lựa mực, không ngẩng lên nữa. – Con trai tui. Ở trên ban quản lý.
Tôi quay lại chợ cũ lúc gần trưa. Ông Phước đang ngồi một mình trên cái ghế nhựa đỏ gãy chân ở ô sạp 41, chống hai tay lên đầu gối. Tay áo sơ mi xắn lên. Trên mu bàn tay trái của ông, từ cổ tay kéo xuống tới khớp ngón cái, có một vết sẹo bóng loáng, da co nhăn như giấy kính.
Giống hệt bàn tay ông Chẩn.
– Cái sẹo đó ở đâu ra vậy anh Phước? – tôi hỏi.
Ông ngước lên. Ông không giật mình, không giấu tay. Ông nhìn tôi như người ta nhìn một chuyến xe đò mình đã chờ suốt từ sáng.
– Hồi nhỏ em nghịch lửa, chị Quế.
Tôi chưa bao giờ nói với ông tên tôi.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám