Chương 1: Lài
Than phải đỏ đều mới đổ bột. Đổ sớm thì bánh dính khuôn, đổ trễ thì cháy đáy. Má Lài dạy vậy từ hồi Lài mười tuổi, ngồi chồm hổm trước cái lò đất ở chợ Tuy Phước, quạt than bằng cái quạt mo cau. Giờ Lài hai mươi hai, ngồi trên cái ghế đẩu nhựa thấp trên vỉa hè đường ven biển Quy Nhơn, quạt than bằng cái quạt điện nhỏ xài pin sạc, mà vẫn phải nhìn màu than bằng mắt chứ không đoán.
– Ba khuôn, mỗi khuôn chín lỗ, tối nay đặt bột mười lăm ký – Đạt nói, tay cầm cuốn sổ bìa xanh. – Tối qua bán hết mười hai ký, dư ba mươi lăm cái bánh. Tối nay mười lăm là liều.
– Thứ Bảy mà – Kiệt la từ phía sau xe, đang cột tấm bạt che. – Thứ Bảy khách du lịch ra biển đông như kiến. Liều gì mà liều.
Ba đứa mở xe bánh căn từ tháng Ba năm cuối. Mỗi đứa góp hai triệu, mua lại cái xe đẩy cũ của một ông bán bánh mì, ba bộ khuôn đất nung mua ở lò gốm, cái bếp than, mấy bộ bàn ghế nhựa. Lài lo bột, lo khuôn, lo nước chấm, vì nhà Lài ba đời làm bánh căn. Đạt học kế toán, lo sổ sách, lo đi chợ. Kiệt không biết làm gì, nên Kiệt lo gọi khách, dọn bàn, rửa khuôn, và nói chuyện. Kiệt nói chuyện giỏi tới mức có bà khách người Hà Nội ngồi ăn bánh xong còn ngồi thêm nửa tiếng nghe Kiệt kể chuyện Quy Nhơn có bao nhiêu cái ghềnh.
Ba đứa quen nhau từ buổi sinh hoạt tân sinh viên năm nhất. Lài ngồi hàng đầu, Đạt ngồi hàng hai, Kiệt tới trễ, không còn ghế, ngồi bệt dưới đất ngay giữa hai đứa. Anh khóa trên chia nhóm theo số thứ tự, ba đứa vô cùng nhóm. Từ đó tới giờ, bốn năm, đi đâu cũng ba đứa. Lên Ghềnh Ráng ba đứa. Ra Kỳ Co ba đứa, đi ghe, Kiệt say sóng ói tới mật xanh. Ăn bún chả cá ba đứa, ngồi ở cái quán quen trên đường Ngô Mây, bà chủ thuộc lòng: một tô không hành, một tô nhiều ớt, một tô thêm chả. Hồi năm hai, ba đứa ngồi trên bãi cát lúc nửa đêm, Kiệt đề nghị thề. Thề gì thì không rõ, Kiệt chỉ nói: thề không để chuyện gì chen vào giữa ba đứa. Lài với Đạt cười, nhưng cũng giơ tay.
Lài và Đạt bắt đầu đi với nhau từ tháng Mười một năm ngoái. Không ai tỏ tình. Chỉ là một tối, xe bánh căn dọn xong, Kiệt đi mua thêm than ở tận chợ Khu Sáu, Lài với Đạt ngồi đợi trên bờ kè, nói chuyện về chuyện sau khi ra trường. Đạt nói anh muốn ở lại Quy Nhơn. Lài nói Lài cũng vậy. Rồi im. Rồi Đạt nắm tay Lài, tay Đạt dính bột gạo, ram ráp.
Từ hôm đó tới giờ đã năm tháng. Kiệt không biết.
Hai đứa đã bàn nhiều lần chuyện nói với Kiệt. Lần nào cũng hoãn. Đạt sợ Kiệt thấy mình bị gạt ra ngoài. Lài sợ hơn: Lài sợ Kiệt cười, rồi Kiệt nói một câu đùa gì đó thật vui, rồi ba đứa vẫn đi chung, nhưng mỗi lần đi Kiệt sẽ đi lùi ra sau một bước. Lài biết Kiệt. Kiệt là đứa không bao giờ để người khác thấy mình buồn.
Tối thứ Bảy đó đông khách thật. Mười lăm ký bột hết lúc mười giờ rưỡi. Kiệt chạy đi chạy lại giữa sáu cái bàn nhựa, miệng không ngớt: bánh căn trứng cút đây, bánh căn mực đây, chấm mắm nêm hay nước mắm, có xoài bằm, có mỡ hành. Lài đổ bột, đập trứng, rắc hành, đậy nắp đất, mở nắp, xúc bánh, như một cái máy. Mồ hôi chảy xuống cằm. Có lúc ngẩng lên, Lài thấy Đạt đứng cạnh, lấy khăn lau mồ hôi cho mình, rồi rụt tay về rất nhanh khi Kiệt quay lại.
Lài liếc Kiệt. Kiệt đang cúi xuống lau bàn, không ngẩng lên.
Mười một giờ dọn hàng, Kiệt lại xin đi mua đá cho ngày mai. Lài nhìn theo cái lưng áo thun bạc màu của Kiệt khuất sau dãy dừa, chợt thấy có gì đó không khớp. Thùng đá còn đầy. Ngày mai là Chủ nhật, ba đứa nghỉ bán. Lài định gọi Kiệt lại, rồi thôi. Đạt đã ngồi xuống bờ kè, vỗ vỗ chỗ trống bên cạnh. Sóng đêm vỗ vào chân kè ì oạp, mùi bánh căn cháy cạnh còn bám trên tóc. Lài ngồi xuống, và trong bốn mươi phút đó, Lài quên mất cái thùng đá.
— Hết chương 1 —

🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường🎧 Nghe
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường
🎒 Thanh xuân vườn trường