Chương 1: Con tò vò hát trong tai ông thần
– Ông ơi, ông thần về rồi, sao ông không vui?
Con Na hỏi câu đó lúc gần nửa đêm, khi chiếc xe tải nhỏ của bảo tàng đã đi khỏi con đường đất, và bức tượng đá đã ngồi lại trên cái bệ cũ giữa phế tích, quấn một lớp vải bạt để chờ sáng mai người ta trám xi măng chân đế. Ông Thọ ngồi trên bậc thềm cái chòi canh, ngọn đèn dầu đặt dưới chân, quanh đèn bay vo ve mấy con thiêu thân.
– Ông vui chớ. – Ông Thọ nói. – Già rồi, vui thì ngồi im.
– Ông kể con nghe đi. Vì sao người ta tìm được ông thần?
Ông Thọ móc trong túi áo ra gói thuốc rê, vấn một điếu, bật lửa. Con Na mười tuổi, học lớp năm trường xã, nghỉ hè lên ở với ông ngoại trong cái chòi canh tháp này. Nó đã nghe ông kể chuyện con cọp, chuyện ma da, chuyện mấy ông Tây hồi xưa tới đào tháp. Chuyện này thì nó chưa nghe trọn.
– Thì bắt đầu từ con tò vò. – Ông nói.
Ông Hồ Phước Thọ giữ phế tích tháp Chăm ở khe núi này đã hai mươi sáu năm. Gọi là tháp, chứ chỉ còn lại một ngọn tháp gạch đỏ nghiêng nghiêng, mấy bức tường đổ, và cái nền đá ong vuông vức trên đó có một bức tượng sa thạch ngồi xếp bằng, cao ngang ngực người lớn. Tượng không còn tay phải, mũi bị sứt, nhưng gương mặt hiền, mắt nhìn xuống như đang nghe ai nói gì dưới chân. Người làng gọi là ông thần, thắp nhang vào ngày rằm, không ai biết tên thật.
Ông Thọ ăn lương của ban quản lý di tích, mỗi tháng ít ỏi. Việc của ông là phát cỏ, quét lá, đuổi trâu bò vào phá, ghi sổ khách ra vô, mà một năm khách chỉ đếm trên đầu ngón tay, phần lớn là sinh viên khảo cổ với mấy người Tây ba lô lạc đường.
Mười năm trước, có một con tò vò làm tổ trong tai trái của bức tượng.
Ông thấy nó lần đầu vào một trưa tháng Sáu, con ong đen nhánh, eo thắt nhỏ như sợi chỉ, bay ra bay vô cái lỗ tai bằng đá, mỗi lần bay vô lại ngậm theo một viên đất ướt nhỏ như hột tiêu. Nó đắp, đắp, đắp mấy ngày liền. Rồi cái tổ thành hình: một cái bầu bằng đất màu xám nâu, lấp lánh như có rắc kim tuyến, đắp kín một nửa vành tai. Từ năm đó, mùa hè nào con tò vò cũng về, đắp thêm vài ô, hoặc là con của nó về, ông không phân biệt được.
– Con tò vò hát trong tai ông thần. – Ông Thọ kể với con Na hồi nó còn bé xíu. – Trưa nắng, con lại gần mà nghe, nó kêu vo vo trong đó, như ông thần đang nghe nhạc.
Ông không bao giờ phá cái tổ. Mấy sinh viên khảo cổ tới chụp ảnh, có cậu muốn lấy que khều ra cho tượng sạch, ông không cho. Ông nói: ông thần nghìn năm ngồi đây có ai làm bạn đâu, để cho nó có con tò vò.
Rồi tới đêm hai mươi ba tháng Mười năm ngoái.
Bão vào, mưa như trút. Gió rừng hú suốt đêm, cây đổ rầm rầm phía khe suối. Ông Thọ nằm trong chòi canh, nghe mái tôn rung bần bật, không dám ra ngoài vì sợ cây ngã. Đâu chừng hai giờ sáng, giữa tiếng mưa, ông nghe một thứ tiếng khác, như tiếng máy xe gầm lên rồi tắt, ở phía con đường đất dẫn ra tỉnh lộ. Ông tưởng là sấm.
Sáng ra, mưa ngớt. Ông Thọ cầm dao phát lội ra phế tích.
Cái bệ đá ong trống trơn. Chỗ bức tượng ngồi mười thế kỷ, giờ chỉ còn một vệt đá màu sẫm hơn xung quanh, vuông vức như cái bóng bị ai bỏ quên. Giữa vệt sẫm là cái lỗ mộng hình vuông, chỗ chốt đá dưới đáy tượng cắm xuống bệ. Trong lỗ mộng còn kẹt một mẩu đá sa thạch to bằng nắm tay, mặt gãy còn tươi màu.
Bùn trên lối đi in hằn hai vệt bánh xe máy độ chở hàng, loại xe người ta hay dùng để chở gỗ lậu trong rừng.
Ông Thọ ngồi bệt xuống nền đá ướt. Lúc đó ông không nghĩ tới tiền, không nghĩ tới tội. Ông chỉ nghĩ tới cái tổ tò vò.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám