Chương 1: Ba nếp ngang, hai nếp dọc
– Ông lại gấp tiền như gói thuốc bắc thế này thì tôi lấy gì mà thối?
Bà Duyến vừa cằn nhằn vừa lấy móng tay cái gẩy gẩy cái cục giấy xanh bé bằng đốt ngón tay mà ông Tiệp vừa đặt lên mặt chõng. Tờ mười nghìn, gấp đôi, gấp đôi nữa, gấp ba, rồi gập ngược hai mép vào trong, nén chặt tới mức mở ra thì nó cong lên như cái lá bàng khô. Mười năm nay sáng nào cũng thế. Mười năm nay sáng nào bà cũng cằn nhằn đúng một câu ấy.
– Gấp thế cho nó khỏi rơi. – Ông Tiệp cười, hở cái răng cửa bọc bạc. – Hồi tôi chạy tàu, tiền để túi ngực mà không gấp thì gió nó hút mất. Năm bảy tám tôi mất nguyên tháng lương ở ga Đồng Đăng vì cái tội để tiền phẳng.
– Ông kể chuyện ga Đồng Đăng ba trăm lần rồi đấy.
– Thì bà nghe lần ba trăm linh một.
Bà Duyến bảy mươi lăm tuổi, bán nước chè ở đầu ngõ Thổ Quan được ba mươi tám năm. Cái phường cũ của bà người ta đã nhập đi nhập lại, đổi tên trên giấy tờ, nhưng trong ngõ không ai gọi tên mới. Họ gọi ngõ bà Duyến. Chõng tre của bà kê sát cột điện, cái ấm tích ủ trong giỏ mây lót bông, một lọ kẹo lạc, một lọ bánh đa vừng, cái điếu cày dựng nghiêng cho cánh xe ôm. Chè chén năm nghìn, chè đá năm nghìn, ai uống trà mạn thì bảy nghìn. Bà thối tiền chính xác tới từng tờ hai nghìn, không bao giờ làm tròn, cái thói của người đứng quầy mậu dịch Hàng Bông suốt mười một năm thời tem phiếu. Người trong ngõ bảo bà Duyến tính tiền chè mà như tính tiền vàng.
Ông Tiệp tám mươi mốt tuổi, ở cái nhà hai tầng ọp ẹp cuối ngách số ba, sống một mình với một con mèo mướp tên Còi. Chiều nào ông cũng đi đánh cờ ở nhà văn hoá tổ dân phố, hai giờ kém mười đi, bốn giờ về, đều như tàu chạy đúng giờ, cái thói mà ông bảo bốn mươi năm đường sắt rèn vào xương.
Sáng hôm ấy ông ngồi lâu hơn mọi khi. Ông khoe đứa cháu gái út ở Hải Dương cuối tháng cưới, ông vừa ra ngân hàng rút ba mươi tám triệu, để dành mừng cháu ba mươi, còn tám triệu sắm cho mình bộ com lê.
– Rút ra làm gì sớm thế? Để trong sổ có lãi.
– Tôi muốn sờ thấy nó. – Ông Tiệp vỗ vỗ ngực áo. – Già rồi, tiền trong sổ như tiền của người khác.
– Thế ông cất ở đâu?
– Bà hỏi làm gì?
– Tôi hỏi để mai mất thì tôi biết đường mà chỉ công an.
Ông cười, không đáp, vê nốt điếu thuốc lào rồi đứng dậy. Bà Duyến nhìn theo cái lưng gầy, cái mũ cối bạc màu, và thấy lòng hơi gợn. Ngõ này hẹp nhưng sâu, ba ngách, hơn tám mươi hộ, người thuê trọ ra vào như nước. Một ông già sống một mình mà miệng cứ khoe tiền như khoe cháu.
Buổi trưa có thằng Hậu ghé uống chè. Hậu ba mươi hai tuổi, người Phú Thọ, làm thợ điện nước dạo, đi cái xe máy chở thùng đồ nghề buộc dây cao su. Nó hiền, nói nhỏ, sửa điện cho nửa ngõ, lấy công rẻ. Tháng trước nó còn thay cho ông Tiệp cái công tắc bình nóng lạnh. Hôm ấy nó ngồi một lúc rồi đi, chẳng có gì đáng nhớ.
Bốn giờ mười lăm chiều, tiếng ông Tiệp từ trong ngách số ba vọng ra, không phải gọi mà là kêu, cái tiếng kêu khàn khàn của người già không còn đủ hơi.
Cái hộp bánh quy thiếc dưới gầm giường trống trơn. Ba mươi tám triệu, một đôi nhẫn cưới của bà cụ nhà ông, cả cái phong bì ông đã viết sẵn chữ mừng cháu. Ổ khoá cửa vẫn nguyên, cái khoá đồng to bằng nắm tay, ông bảo sáng nay chính tay ông khoá. Cửa sổ có song sắt. Con mèo Còi nằm trên nóc tủ, mắt tròn xoe.
Người ta xúm lại. Bà Hằng nhà đối diện, người cả ngày ngồi bóc tỏi thuê ở hiên, nói chắc nịch rằng lúc ba giờ hai mươi bà nghe tiếng ai lay ổ khoá nhà ông Tiệp loảng xoảng, ngó ra thì thấy thằng Bách, cháu đích tôn của ông, đội mũ bảo hiểm đỏ, đứng ở cửa.
Thằng Bách hai mươi sáu tuổi, ở bên Định Công, nợ nần vì đánh bạc trên mạng, cả họ biết. Nó cũng có một chiếc chìa khoá nhà ông nội.
Bảy giờ tối, Bách bị mời lên công an phường. Nó bảo cả chiều nó ngồi ở quán net bên Định Công, không đi đâu cả.
Bà Duyến dọn hàng, đếm tiền, buộc chun từng xấp như mọi tối, rồi ngồi thừ trên cái ghế nhựa. Ông Tiệp đứng ở đầu ngách, tay cầm cái hộp bánh quy rỗng như cầm cái hộp sọ của ai.
– Bà Duyến này. – Ông nói. – Sáng nay bà hỏi tôi cất tiền ở đâu. Giá mà tôi bảo bà.
— Hết chương 1 —

🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám