Chương 3: Ngày ra lò
Ông nội cô ngồi đó.
Ông Tám Lò ngồi trên mặt vòm lò, sát cái lỗ khói phía bắc, hai chân duỗi thẳng, lưng dựa vào ống khói, mình mặc bộ đồ bà ba vải nâu ông mặc đi ngủ. Tay phải ông cầm một cây que sắt dài chừng một mét, đầu que quấn một vòng dây kẽm đồng sáng bóng. Ông đang gõ đầu que vào mặt gạch vòm, nghiêng tai nghe. Keng. Keng. Keng.
Ông nghe thấy tiếng cô. Ông quay lại. Dưới ánh đèn pin, gương mặt ông không lơ mơ như ban ngày. Mắt ông tỉnh, sáng, nhìn thẳng vào cô, và ông nói, giọng khàn mà rõ:
– Lan hả? Sao giờ này bà còn chưa ngủ?
Lan là tên bà nội cô. Bà nội mất từ trước khi cô sinh ra.
Út Nhỏ không dám cãi. Cô leo lên ngồi xuống bên ông, trên mặt gạch ấm hầm hập. Ông chỉ cây que sắt vào cái nắp gạch trên lỗ khói phía bắc.
– Lò lệch rồi bà. Phía bắc nó sống. Tui nghe tiếng là biết, gạch chín kêu trong, gạch sống kêu đục. Bà kêu thằng Sển dồn trấu qua cửa bắc, tui mở lỗ khói cho lửa nó kéo.
Rồi ông khều cái nắp gạch nhích ra chừng một gang tay, động tác thành thạo, gọn gàng, của một người đã làm việc đó hàng ngàn lần. Một luồng khói nóng phả ra. Ông gõ que sắt lên vòm gạch ngay cạnh đó, nghe, gật đầu.
Út Nhỏ ngồi đó, nhìn ông. Cô nhớ cái cầu thang khoá cửa sắt. Cô nhìn xuống dưới, ở phía sau lò, phía giáp vườn nhà, có một bức tường thấp, chỗ ba cô chất củi tràm. Từ đống củi tràm đó, chồng lên bức tường, leo lên được tới bậc cầu thang thứ tư, phía trên cánh cửa sắt. Một đứa con nít leo được. Một ông già tám mươi sáu tuổi, ba năm không ra khỏi giường, thì không thể.
Nhưng ông đã leo.
Cô nhớ ra cái đêm thằng Lực tới ngồi canh, cái đêm duy nhất không có tiếng gõ. Đêm đó má khoá cửa buồng ông. Sáng ra ông giận, không chịu ăn cháo. Cô nhớ ra những buổi sáng ông nằm ngủ li bì tới trưa, má cô than ông ngủ nhiều quá. Cô nhớ ra đôi bàn tay ông giật giật trong giấc ngủ, những ngón tay co lại như đang nắm một cây que.
Ông nội ngồi cạnh cô, nghiêng đầu nghe lửa, không biết cô đang nghĩ gì. Ông gõ thêm ba tiếng, rồi nói, như nói một mình:
– Năm nay trấu ướt. Trấu ướt thì lửa lười, phải canh kỹ. Bà nhớ dặn thằng Sển.
Cô ngồi im nghe ông nói. Ông kể năm bảy tám lụt lớn, nước ngập tới nửa thân lò, ông với bà chèo xuồng đi chặn đất sét bít cửa lò, cứu được nửa mẻ gạch. Ông kể cái năm thằng Sển lên năm, leo lên nóc lò theo ông, té trầy đầu gối, bà la ông cả buổi. Những chuyện đó cô chưa nghe ai kể bao giờ. Ba năm nay, ông không nói với ai một câu nào trọn vẹn.
Út Nhỏ đỡ ông xuống lúc ba giờ sáng, theo lối đống củi, chậm từng bước. Ông không cần cô đỡ nhiều. Chân ông bước chắc, tay ông vịn đúng chỗ, như cái lối đó ông đã đi mỗi đêm trong bốn mươi năm. Xuống tới đất, ông đi thẳng vô buồng, nằm lên giường, đặt cây que sắt dưới gầm giường, kéo mền lên, nhắm mắt ngủ. Cô đứng ở cửa buồng nhìn ông, cây đèn pin còn cầm trên tay.
Sáng ra, cô cúi xuống nhìn dưới gầm giường. Cây que sắt nằm đó, đầu quấn dây kẽm đồng, bám đầy muội than. Kế bên là đôi dép cao su của ông, đế dép dính đầy tro trấu và vụn gạch đỏ.
Bác sĩ ở trạm y tế xã tới khám, nói bệnh của ông nội có một kiểu như vậy: ban ngày lơ mơ, chiều tối với nửa đêm lại tỉnh táo, lại đi lại, làm những việc đã quen tay từ hồi trẻ. Người ta gọi là hội chứng hoàng hôn. Những việc cơ thể đã làm bốn chục năm, nó nhớ lâu hơn cái đầu. Bác sĩ dặn phải khoá cửa buồng ban đêm, không là ông đi lạc, té ngã.
Ba cô nằm trên giường nghe, rồi ông Hai Sển khóc. Lần đầu tiên trong đời Út Nhỏ thấy ba khóc.
– Hồi xưa ba còn nhỏ, đêm nào ổng cũng leo lên nóc lò. – Ông Hai nói. – Ổng ngồi đó, gõ que nghe gạch, nói chuyện với má ba ở dưới. Má ba ngồi canh cửa lò, ổng ngồi trên nóc, hai người nói vọng lên nói vọng xuống tới sáng. Má ba mất rồi ổng vẫn leo, vẫn gõ, mà không nói chuyện nữa.
Lò gạch số ba ra lò đúng ngày thứ ba mươi. Hai chục ngàn viên gạch đỏ au, chín đều, gõ vào nhau kêu leng keng trong vắt như tiếng chuông. Ông thương lái từ Cần Thơ xuống coi hàng, cầm hai viên gạch gõ thử, khen lò này đốt khéo, hỏi thợ nào canh lửa. Ba cô nói: con gái tui. Út Nhỏ không cải chính.
Cô không khoá cửa buồng ông nội.
Cô kê thêm mấy bậc gỗ chắc chắn ở chỗ đống củi, chằng dây thừng làm tay vịn, lót một tấm bao bố dày trên mặt vòm chỗ ông hay ngồi. Mẻ lò thứ hai, lưng ba cô đã đỡ, ông Hai Sển ra ngồi canh cửa lò ban đêm. Còn Út Nhỏ thì đêm nào gần một giờ sáng cũng ngồi chờ ở cửa buồng ông nội. Nghe tiếng dép cao su lẹp xẹp, cô đứng dậy, đi theo ông ra phía sau nhà, leo sau lưng ông, từng bậc, chậm, chắc, tay cô đặt hờ sau lưng áo ông. Lên tới nóc, ông ngồi xuống chỗ cũ, dựa lưng vào ống khói. Cô ngồi sát bên, nắm một vạt áo bà ba của ông trong tay.
Keng. Keng. Keng.
Ông nghiêng tai nghe, rồi quay sang cô.
– Phía tây hơi sống, bà.
Út Nhỏ nhoài người ra mép vòm, nói vọng xuống:
– Ba ơi, ông nói phía tây hơi sống. Ba dồn trấu qua một chút.
Dưới chân lò, ánh lửa hắt ra từ cửa lò soi một khoảng sáng đỏ. Ba cô ngước lên, giơ tay ra dấu đã nghe. Rồi tiếng xẻng xúc trấu sột soạt vọng lên.
Ông nội cô gật đầu, như hài lòng. Ông lại gõ que sắt xuống mặt gạch, nghe, đều đặn, trong vắt, từng tiếng một. Út Nhỏ ngồi bên ông, nghe tiếng ông gõ trên nóc lò, tiếng ba cô xúc trấu dưới cửa lò, tiếng hai người đàn ông nói vọng lên nói vọng xuống qua cô, cho tới khi trời hửng sáng.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị