Chương 3: Đêm thứ ba: lễ trả
Lý Hoạch đang dán giấy vàng lên mâm ngũ quả cho ngày giỗ thì bà Ngần đến. Ông ta khó chịu ra mặt, nhưng vẫn mời ngồi, vì người làng Vực không ai đuổi khách trước ngày giỗ.
Bà không nói chuyện thuỷ thần. Bà không nói chuyện thằng Còm. Bà chỉ mở miếng vải, rút ra một tờ giấy than, tờ có cái tên ông đồ đọc lên rồi ngừng, đặt lên chiếu trước mặt ông ta.
– Ông đọc được chữ không? – Bà hỏi.
– Đọc được ít. – Lý Hoạch nói, giọng cộc. Ông ta cúi nhìn. Bà thấy cái điếu cày trúc trong tay ông ta dừng lại giữa chừng.
– Ông đồ Thiêm đọc cho tôi cả dòng đầu. – Bà nói. – Ngày thuyền đắm là ngày mồng mười tháng Sáu. Ba mươi sáu người làng Then. Quả chuông này là người làng Then đúc thả xuống cho họ. Không phải trời ban cho làng mình.
Lý Hoạch không nói. Ông ta đứng dậy, đi lại bàn thờ, nhấc cái bài vị đặt ở góc trong cùng, cái bài vị mà ông đồ Thiêm viết hộ năm kia. Ông ta đặt nó xuống cạnh tờ giấy than. Hai cái tên giống nhau từng nét.
– Bà nội tôi kể, – ông ta nói rất lâu sau, giọng nhỏ hẳn đi, như không phải giọng người hay gõ điếu cày vào cột đình, – ông chú tôi đi phu năm mười chín tuổi, mới cưới vợ được ba tháng. Bà cố tôi ra bờ sông khóc suốt một mùa. Rồi làng Then góp tiền đúc chuông. Bà cố tôi bán đôi hoa tai bạc góp vào. Bà nội tôi nhớ chuyện đôi hoa tai, chứ không biết chuông ấy thả ở đâu.
Ông ta ngồi xuống. Ngoài ngõ, mấy đứa trẻ con chạy qua, đuổi nhau bằng mấy cành tre.
– Cha tôi treo nó lên gác đình. – Ông ta nói. – Ba mươi năm nay năm nào tôi cũng thắp hương cho ông chú ở nhà, rồi ra đền cúng thuỷ thần, rồi về ăn giỗ. Mà ông chú tôi thì treo ở trên gác đình, cách nhà tôi có hai trăm bước chân.
Bà Ngần không đáp. Bà để ông ta nói.
Chiều mồng chín tháng Sáu, làng Vực họp đình lần thứ hai. Lần này lý Hoạch đứng lên nói trước. Ông ta không nhắc chuyện mơ, không nhắc chuyện thuỷ thần. Ông ta đọc cái dòng chữ đầu tiên trên quả chuông, đọc ba mươi sáu cái tên, đọc cả bảy chỗ trống mà rêu ăn mất. Mỗi chỗ trống ông ta dừng lại một nhịp như người ta lặng đi khi đọc tới tên người đã khuất. Đọc xong, ông ta bảo:
– Của ai thì trả về cho người ấy.
Có mấy cụ phản đối. Làng bên sẽ cười. Đình không còn chuông. Lý Hoạch bảo làng sẽ góp tiền đúc quả chuông khác, quả chuông của làng Vực, kêu được trên cạn. Ông ta góp trước một nửa.
Sáng mồng mười, người làng Vực tháo quả chuông khỏi gác đình. Mười hai thanh niên khiêng xuống bến. Hai chiếc đò ghép mạn, lấy tre ngang làm sàn, quả chuông buộc thừng treo ở giữa. Bà Ngần cầm lái chiếc bên phải. Người làng Then nghe tin, kéo sang hơn trăm người, có ông cụ chín mươi tuổi được con cháu cõng ra tận bờ, ngồi trên chiếc chiếu trải ở bãi cát, tay cầm một nén hương không châm.
Lúc đò sắp rời bến, ông cụ làng Then vẫy bà Ngần lại gần. Ông nói chậm, hơi thở khò khè, nhưng từng chữ rõ ràng.
– Năm đúc chuông ấy tôi mười tuổi, đi theo cha ra lò. – Ông nói. – Đúc xong, người ta treo lên thử, gõ một tiếng. Nó kêu đục như gõ vào chum. Cả làng lo, tưởng hỏng mẻ đồng. Ông thợ cả bảo đừng lo. Chuông này đúc cho dưới nước, ông ấy pha đồng theo cách của người làng chài ngoài biển. Trên cạn nó không kêu cho người sống nghe đâu.
Ông nhìn ra mặt vực, đôi mắt mờ như kính bám hơi nước.
– Ba mươi năm nay nghe người ta đồn làng Vực có quả chuông câm, tôi cứ nghĩ mãi mà không dám sang hỏi. Già rồi, sợ phải biết.
Bà Ngần cúi chào ông, rồi xuống đò.
Khi hai chiếc đò ra tới mép vực, nước xoáy kéo mạn đò về phía tâm. Bà Ngần ghì lái. Bà chèo đò ba mươi năm trên khúc sông này, bà biết cái vực kéo người ta vào thế nào, và biết chèo ra thế nào. Bên kia, ông lái già của làng Then cũng ghì. Hai chiếc đò đứng yên được trên mép xoáy một lúc, vừa đủ.
Lý Hoạch cầm dao chặt dây thừng.
Quả chuông rơi xuống nước, không có tiếng tõm nào cả. Nó chìm thẳng, nhanh, như có ai ở dưới đưa tay đón. Rồi từ đáy vực vọng lên một tiếng ngân. Không phải bà Ngần tưởng tượng. Cả hai bờ đều nghe. Tiếng ngân trong, dài, rung tới mặt cát, rung tới những cây tre ở bãi. Ông cụ chín mươi tuổi trên chiếu cát đứng dậy được, không cần ai đỡ, chắp tay lại. Nén hương trong tay ông vẫn chưa châm.
Mặt vực, cái phễu đen xưa nay quay tròn, chậm dần. Không ai dám chắc là nó dừng hẳn. Chỉ biết nó chậm đi, như một người đang thở gấp được ai đặt tay lên lưng.
Đêm hôm ấy, bà Ngần lại nằm trong khoang đò, tai áp vào mạn gỗ. Không có tiếng chuông nào nữa. Chỉ có tiếng nước sông Lạng lách tách, như ba mươi năm trước, khi bà còn là một cô gái chèo đò thay cha, và thằng Còm còn chưa ra đời.
Gần sáng bà ngủ thiếp đi. Bà mơ thấy một hàng người áo màu nước đi lên bờ, đi về phía làng Then, mỗi người cầm một nén hương đã cháy. Người đi cuối cùng là một thằng bé, đứng một chân, quay lại nhìn bà, rồi chạy theo hàng.
Lúc mặt trời lên, bà ngồi dậy, cuốn chiếu. Dưới chiếu, giữa lòng đò khô ráo, có một hòn cuội trắng, còn ướt.
Năm ấy, và năm sau, và năm sau nữa, vực Đá Bạc không bắt thêm ai. Người làng Vực vẫn cúng thuỷ thần ngày mồng mười tháng Sáu. Chỉ khác là mâm cúng giờ đặt ngoài bãi cát, quay mặt ra vực. Trước mâm có ba mươi sáu nén hương, lý Hoạch thắp từng nén, không sót cái tên nào, kể cả bảy cái tên mà rêu đã ăn mất.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu