Chương 3: Bản ghi số bảy đến số chín
Bản ghi số bảy. Tám giờ sáng.
Bác vừa nói với cả đoàn. Bác ghi lại để cháu biết bác nói gì, mai mốt bác quên.
Bác bảo: đêm qua máy ghi âm của tôi chạy ngoài lan can suốt đêm, cách cầu gỗ chưa tới mười mét. Lời anh Quyền, lời cô Yến, máy đều nghe thấy, khớp từng phút. Nhưng từ bốn giờ tới năm giờ, ở cái đầm này, không có con cuốc nào kêu. Có con vạc kêu lúc bốn giờ mười, ở xa. Còn cuốc thì không.
Rồi bác quay sang ông Kiệt.
Bác bảo: tối qua ông đứng với tôi ngoài lan can, ông bảo mùa này cuốc kêu thưa. Ông là người duy nhất ở đây kể ra một tiếng chim để giải thích vì sao mình ra cầu gỗ lúc bốn rưỡi. Và đúng bốn rưỡi, máy của tôi ghi được tiếng cửa phòng để đồ kẹt, tiếng dây cọ vào gỗ, rồi tiếng một thứ nặng được hạ xuống nước. Thứ ấy chắc vẫn còn đó, dưới cầu gỗ, buộc dây, chờ người buộc nó kéo lên.
Cả đoàn im phăng phắc, Mạn ạ. Ông Kiệt đứng yên, tay vẫn cầm cái đèn pin bọc giấy kiếng đỏ. Rồi ông nói một câu, giọng rất bình thản, như bác sĩ báo kết quả xét nghiệm:
"Ông nghe giỏi thật. Tôi nhại cuốc bốn mươi năm, chưa ai bắt được."
Ông đi ra cầu gỗ, tới cái cột thứ mười hai tính từ trạm, quỳ xuống, thò tay xuống nước, lần ra một sợi dây dù màu xanh rêu buộc sát chân cột, chìm dưới mặt nước một gang tay. Ông kéo lên. Ở đầu dây là cái túi khô màu cam, loại túi chống nước dân chèo xuồng hay dùng. Trong túi là cái ống kính khúc tre của chị Huyền, khô nguyên.
Anh Tuấn thở hắt ra, như người vừa được tháo dây trói. Chị Huyền nhìn anh một lúc, rồi nói, nhỏ thôi nhưng cả cầu gỗ đều nghe: em xin lỗi anh Tuấn, em nói bậy. Anh Tuấn gật đầu, không nói gì, quay đi châm thuốc. Anh Quyền thì lẩm bẩm với bác rằng nghề buôn đồ cũ của anh đi đâu cũng bị nghi trước tiên, anh quen rồi, nhưng lần này anh mừng vì có người nghe giùm anh.
Bản ghi số tám. Chín giờ sáng.
Mạn, bác kể nốt chuyện ông Kiệt nói. Bác nghĩ cháu nên nghe.
Ông không lấy để bán. Ông chưa bao giờ định giữ nó. Ông chỉ định để nó ở dưới cầu gỗ hai ngày, tới khi đoàn rời trạm, rồi lặng lẽ treo lại vào chỗ cũ, hoặc gửi trả cho anh Út Rạng.
Ông nói năm ngoái đàn cò ốc ở khu C bị lưới, anh Út Rạng nói đúng. Người đăng ảnh kèm vị trí đầu tiên là chị Huyền. Không phải ảnh của chị, chị nói đúng, nhưng chị là người chia sẻ lại bài viết ấy, kèm một dòng khen "chỗ này chụp đẹp lắm, ai đi miền Tây nhớ ghé", cho hơn hai trăm nghìn người theo dõi. Ông đã đọc dòng ấy. Ông đã đi theo anh Út Rạng vào khu C ba tuần sau, nhìn những cái lưới tàng hình giăng giữa rừng tràm, những con cò ốc mắc trong lưới. Ông là bác sĩ nhi, cả đời ông gỡ những thứ mắc vào cổ họng trẻ con. Hôm ấy ông ngồi gỡ cò.
Đêm qua, nghe anh Út Rạng nói về đàn giang sen, nhìn mắt chị Huyền sáng lên, ông không ngủ được. Ông nghĩ: mất ống kính thì chị không chụp. Không chụp thì không có ảnh. Không có ảnh thì không ai đăng. Ông biết là sai. Ông vẫn làm.
Chị Huyền nghe xong, ngồi xuống bậc cầu gỗ, ôm cái ống kính trong lòng. Chị không nói gì một lúc lâu. Rồi chị bảo: em không biết vụ khu C là do bài em chia sẻ. Em xoá bài đó tuần sau rồi, em tưởng vậy là xong.
Ông Kiệt bảo: xoá thì xoá được bài, không xoá được người đã đọc.
Anh Út Rạng hỏi chị Huyền có muốn báo công an không. Đồ đã tìm lại được, nhưng việc lấy đồ của người khác là việc phải được ghi nhận đúng. Chị Huyền lắc đầu. Ông Kiệt thì nói ông muốn được ghi biên bản. Ông bảo ông làm sai thì ông ký, ông không muốn ai tha cho ông vì ông già.
Anh Út Rạng lập biên bản sự việc, có chữ ký của cả hai, của bác làm chứng. Cuối biên bản, chị Huyền tự tay viết thêm một dòng, bác đứng cạnh nên đọc được: "Tôi cam kết không đăng, không chia sẻ vị trí bất kỳ đàn chim làm tổ nào."
Bản ghi số chín. Bốn giờ chiều.
Mạn ơi, mưa tạnh rồi. Trưa nay anh Út Rạng dẫn cả đoàn đi xuồng vào cuối khu A.
Bác không biết tả thế nào cho cháu. Mấy chục cặp giang sen làm tổ trên ngọn tràm, mỏ vàng, lông hồng ở cánh như ai rắc phấn. Chim non kêu đòi ăn như tiếng trẻ con khóc dỗi. Chị Huyền có mang ống kính. Chị chụp. Bác nghe tiếng màn trập của chị tách tách suốt nửa tiếng. Rồi chị hạ máy xuống, ngồi im nhìn.
Ông Kiệt ngồi ở mũi xuồng, cầm ống nhòm. Ông không nói gì với chị Huyền, chị cũng không nói gì với ông. Nhưng lúc xuồng quay ra, chị đưa cho ông xem màn hình máy ảnh, chỉ một tấm. Ông nhìn rất lâu, rồi gật đầu.
Bác đặt micro gần nhất có thể, buộc vào một gốc tràm sát mặt nước, cách đám tổ chừng hai chục mét. Bác ghi được mười tám phút tiếng giang sen. Bác sẽ đưa vào cuốn sách nói, phần cuối, chương về những loài chim đã lâu không về.
Bản này bác gửi kèm một đoạn ngắn, cháu nghe nhé. Lúc chiều, ở mũi xuồng, ông Kiệt chụm hai tay lên miệng, nhại tiếng con cuốc cho bác thu. Cuốc, cuốc, cuốc. Giống tới mức có một con cuốc thật trong bụi lác gần đó kêu đáp lại hai tiếng. Cả xuồng cười, chị Huyền cũng cười.
Bác đặt tên cho đoạn ấy là "cuốc giả, ông Kiệt kêu, có một con cuốc thật trả lời". Cháu xếp vào thư mục riêng giùm bác, đừng để lẫn sang chương chim thật nhé.
— Hết —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám🎧 Nghe
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám