Chương 2: Bản ghi số bốn đến số sáu
Bản ghi số bốn. Sáu giờ sáng.
Mạn. Cái ống kính mất rồi.
Năm giờ rưỡi chị Huyền dậy chuẩn bị đi xem giang sen, mở hộp chống nước thì hộp trống. Chị hét lên, cả dãy nhà sàn dậy hết. Anh Út Rạng đã lục quanh trạm, lục cả phòng từng người, ai cũng mở ba lô cho xem. Không có. Mà trạm này giữa nước nổi, đêm qua không có xuồng nào ra vào, anh Út Rạng chắc chắn vì xuồng máy khoá ở bến, chìa anh giữ.
Vậy là trong sáu người.
Anh Út Rạng hỏi từng người đêm qua có ra ngoài không. Bác ghi lại nguyên văn cho cháu, bác nghe lại để nhớ.
Anh Tuấn: "Tôi ngủ một mạch tới năm giờ. Không ra đâu cả." Phòng anh sát phòng để đồ.
Anh Quyền: "Ba giờ rưỡi em ra cầu gỗ đi vệ sinh, xong vào ngay. Em không vào phòng để đồ."
Cô Yến: "Bốn giờ em dậy ra đài quan sát xem cò đi ăn sớm, ghi số liệu cho khoá luận. Em đi qua cầu gỗ, cửa phòng để đồ lúc đó đóng."
Ông Kiệt: "Bốn rưỡi tôi tỉnh giấc vì nghe tiếng con cuốc kêu ngay dưới chân cầu gỗ. Lâu lắm không nghe cuốc kêu gần thế. Tôi cầm đèn ra đứng nghe chừng mười phút. Nó kêu thế này này: cuốc, cuốc, cuốc. Rồi nó im, tôi vào."
Ông nhại tiếng cuốc giống y như thật, Mạn ạ. Cô Yến còn gật gù.
Chị Huyền thì nhìn anh Tuấn. Anh Quyền thì nhìn chị Huyền. Không khí khó chịu lắm.
Bản ghi số năm. Sáu giờ rưỡi sáng.
Chị Huyền nói thẳng: người lấy là anh Tuấn, vì anh ghen tị với chị, mất ống kính thì chị không đi chụp giang sen được. Anh Tuấn đỏ mặt, bảo chị muốn lục thì lục, anh không thèm đồ của chị. Rồi chị quay sang anh Quyền, bảo anh hỏi han kỹ quá, buôn đồ cũ thì ai biết. Anh Quyền cười gượng, bảo cái ống kính số sê-ri in trên thân, bán ra chợ là lộ ngay, có điên mới lấy.
Câu ấy nghe cũng có lý, Mạn ạ. Một thứ dài như khúc tre, nặng năm ký, có số sê-ri, trên một trạm giữa nước, không có xuồng. Người lấy không định mang nó đi bán. Người lấy chỉ định làm cho nó biến mất một lúc.
Bác nghĩ tới cái máy ghi âm của bác. Nó chạy cả đêm ngoài lan can, cách cầu gỗ chưa tới mười mét.
Anh Út Rạng đã cho người lục dưới gầm nhà sàn, trong bếp, trong thùng gạo, cả trên mái tôn. Không có. Bác đứng nhìn ra mặt nước đen quanh trạm, rộng mênh mông, và nghĩ: ở giữa đồng nước thế này, chỗ giấu tốt nhất là chính cái nước. Nhưng ống kính ngâm nước thì hỏng, mà người lấy không muốn nó hỏng, vì nếu muốn hỏng thì đã ném luôn xuống đầm, khỏi phải lấy ra khỏi hộp chống nước của chị Huyền làm gì cho mất công.
Bác xin phép vào phòng nghe lại. Bác sẽ ghi tiếp khi nghe xong.
Bản ghi số sáu. Bảy giờ sáng.
Mạn, bác vừa nghe xong đoạn từ ba giờ tới năm giờ sáng. Bác nghe hai lần, tai nghe cắm sát. Bác kể cháu nghe, cháu là dân kỹ thuật âm thanh, cháu xem bác nghe đúng không.
Ba giờ ba mươi hai: tiếng cửa phòng mở, tiếng chân đi trên cầu gỗ, nặng, nhanh, rồi tiếng nước tiểu xuống nước, rồi tiếng chân quay về. Đúng như anh Quyền khai.
Bốn giờ năm phút: tiếng chân đi trên cầu gỗ, nhẹ, đều, đi xa dần về phía đài quan sát. Đúng như cô Yến khai.
Bốn giờ hai mươi tám: tiếng một cánh cửa gỗ kẹt rất khẽ, kéo dài, như người ta đẩy cửa từng chút một. Rồi tiếng chân trên cầu gỗ, chậm. Rồi tiếng sột soạt, tiếng một sợi dây cọ vào gỗ. Bốn giờ ba mươi hai: một tiếng "ộp" trầm, như thứ gì nặng được thả xuống nước một cách cẩn thận, không phải ném. Rồi lặng. Rồi tiếng chân trở về, chậm như lúc đi.
Và Mạn ơi, từ bốn giờ tới năm giờ, bác nghe từng giây. Có ếch. Có nhái bầu. Có tiếng mưa rơi lộp độp trên lá tràm. Có một con vạc kêu xa xa phía đông, lúc bốn giờ mười.
Không có con cuốc nào cả.
Cháu biết bác nghĩ gì không. Tối qua ông Kiệt đứng ngay cạnh cái máy này, hỏi bác thu gì, bác nói thu suốt đêm. Ông biết. Vậy mà sáng nay ông vẫn kể một tiếng chim mà cái máy ấy không hề nghe thấy. Có thể ông nghĩ tiếng ếch đã nuốt hết. Có thể ông quên. Cũng có thể, Mạn ạ, ông là người cả đời không quen nói dối, nên khi phải nói dối thì ông chọn một lời dối mà người nào chịu nghe sẽ bắt được.
— Hết chương 2 —

🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám
🔍 Trinh thám