Chương 2: Tháng chạp
Tháng chạp, tôi đã nghe tiếng chân ấy chín mươi bốn đêm liền và đã thôi sợ. Không phải vì quen. Mà vì tôi bắt đầu ghi chép.
Tôi làm kỹ sư kết cấu mười hai năm, chuyên khảo sát nhà cũ trước khi cải tạo. Cái nghề dạy tôi một điều: nhà cũ biết nói. Gỗ co ngót kêu tách tách khi trời hanh. Ống nước giãn nở kêu cộc cộc lúc nửa đêm. Kèo mái rên khi gió mùa về. Phần lớn những gì người ta gọi là ma trong nhà cũ là tiếng của chính cái nhà.
Nhưng tiếng chân trong bức tường này không giống tiếng nhà. Nó có nhịp. Bước, nghỉ, bước, nghỉ, nặng nhọc, như một người già leo cầu thang. Mười ba bước. Đến bậc thứ mười ba thì dừng. Rồi im. Rồi, chừng bốn mươi phút sau, nó đi tiếp, nhưng không đi xuống. Nó lại bắt đầu từ bậc đầu tiên.
Cái cầu thang ấy có thật. Cụ Đàm, tám mươi chín tuổi, ở tầng hai, người sống trong căn nhà lâu nhất, kể cho tôi nghe. Hồi chủ cũ còn ở, nhà có hai cầu thang. Cầu thang chính bằng đá mài, lan can sắt uốn hoa, đi từ sảnh lên. Cầu thang phụ bằng gỗ, hẹp, dốc, đi từ bếp dưới lên phòng ăn tầng hai, cho người làm bưng mâm. Sau này nhà chia cho nhiều hộ, người ta xây bít cầu thang phụ lại, mỗi đầu một bức tường gạch, để thành hai phòng riêng. Cái cầu thang vẫn còn nguyên trong lòng tường, mười ba bậc gỗ, trong bóng tối, hơn năm mươi năm.
– Ngày xưa có chị Sen làm bếp. – Cụ Đàm nói, tay vê vê sợi chỉ thêu. – Chị ấy chân yếu, leo cầu thang ấy cứ phải nghỉ từng bậc. Sáng nào cũng nướng bánh mì phết bơ cho cả nhà. Mùi bơ nó thơm khắp phố. Rồi chị ấy ngã ở cầu thang ấy, đúng bậc trên cùng. Nghe đâu ngã vào lúc gần sáng.
Ba hộ trước tôi đã thuê căn phòng này. Không ai ở quá một năm. Hộ gần nhất, một đôi vợ chồng trẻ người Thái Bình, chuyển đi trong đêm, bỏ lại cả nồi cơm điện.
Tôi không tin chị Sen. Tôi tin số liệu.
Tháng chạp, tôi dán ba cái nhiệt kế điện tử có bộ nhớ lên bức tường: một cái sát sàn, một cái ngang ngực, một cái gần trần. Tôi đặt một cái máy ghi âm nhỏ dưới chân tường. Tôi ghi lại giờ tiếng chân bắt đầu, giờ nó dừng ở bậc mười ba, giờ nó lặp lại. Tôi ghi cả những đêm nó không đến: có bốn đêm như vậy trong tháng mười một, hai đêm trong tháng chạp.
Sau hai tuần, tôi có một bảng số liệu dài như sổ chấm công. Tôi ngồi phân tích nó trên bàn làm việc, dưới ánh đèn bàn, trong khi tiếng chân vẫn đều đặn leo lên trong lòng tường ngay sau lưng mình.
Ba thứ hiện ra.
Thứ nhất: tiếng chân luôn bắt đầu từ một giờ năm mươi đến hai giờ mười, và bao giờ cũng bắt đầu sau khi nhiệt kế sát sàn tăng khoảng nửa độ.
Thứ hai: nhiệt độ tăng dần từ dưới lên. Cái nhiệt kế sát sàn ấm trước, rồi cái ngang ngực, rồi cái gần trần. Như có một làn hơi ấm đang leo lên trong lòng tường, chậm rãi, từng bậc.
Thứ ba: những đêm không có tiếng chân rơi đúng vào những ngày nào đó, mà tôi chưa hiểu.
Tôi trải bản vẽ hiện trạng của căn biệt thự ra, cái bản vẽ tôi xin được ở phường. Tôi lấy bút chì đánh dấu vị trí cái cầu thang bị bít. Và tôi thấy cái điều mà bốn tháng nay tôi không để ý, vì tôi chỉ nhìn ra phố, không bao giờ nhìn ra phía sau. Chân cầu thang phụ, cái bếp cũ của chị Sen, nằm sát tường hậu. Và bên kia tường hậu, bên kia con ngõ nhỏ chưa đầy hai mét, là một ngôi nhà ống bốn tầng mà tầng trệt là lò bánh mì.
Tôi sang gặp ông Lộc. Ông ngoài sáu mươi, người to béo, cánh tay đầy những vết bỏng cũ, đang ngồi nhào bột trong một cái chậu nhôm to như cái bồn tắm. Lò bánh mì nhà ông có từ thời ông nội. Lò gạch, đốt củi, sau đổi sang than, giờ đốt ga. Đặt sát tường hậu, vì thời ông nội, con ngõ ấy chưa có, lò bánh nhà ông với bếp của căn biệt thự dùng chung một bức tường, chung cả một cái ống khói.
– Mấy giờ bác nhóm lò? – Tôi hỏi.
– Hai giờ kém mười. Ngày nào cũng thế, năm chục năm. Ba giờ mẻ đầu ra lò, bốn giờ người ta đến lấy đi bán.
Tôi hỏi những ngày ông nghỉ. Ông đếm. Rằm, mùng một thì không nghỉ. Ông nghỉ khi đi đám giỗ ở quê, khi ốm. Tôi mở sổ. Bốn đêm tháng mười một, hai đêm tháng chạp. Ông nhớ ông về quê ăn giỗ bố hai ngày đầu tháng mười một. Ông nhớ ông bị cảm hai hôm giữa tháng chạp, thằng con ông đóng lò.
Tôi xin phép ông cho tôi đứng trong lò lúc ông nhóm. Hai giờ kém mười đêm hôm sau, tôi đứng trong cái gian lò nóng hầm hập, mùi bột men chua, mùi bơ đun chảy để quét mặt bánh. Ông Lộc châm ga. Lửa phụt lên xanh lè. Cái lò gạch cũ bắt đầu ấm dần, hơi nóng tỏa vào bức tường chung, bức tường gạch dày hơn nửa mét, rồi tỏa sang phía bên kia, vào chân cái cầu thang gỗ bị bít.
Ông Lộc thấy tôi cứ áp tay lên tường, nhìn đồng hồ, ghi chép, thì cười khà khà, hỏi cô bên ấy bị ma bắt nạt à. Tôi bảo vâng. Ông bảo năm chục năm nay ông nghe người bên ấy kêu có ma, ông cứ tưởng họ nói nhà họ, chứ có ai bảo ông là tại cái lò của ông đâu. Rồi ông dúi cho tôi một cái bánh mì vừa ra lò, vỏ giòn rụm, nóng tới bỏng tay, bảo ăn đi cho đỡ sợ.
Tôi hiểu rồi. Gỗ lim của mười ba bậc thang, sau năm mươi năm nằm trong bóng tối ẩm, mỗi đêm được hơi nóng từ lò bánh hun lên từ dưới. Bậc dưới cùng ấm trước, nở ra, kêu một tiếng. Hơi nóng bốc lên trong cái khoang kín như trong ống khói, bậc thứ hai ấm, kêu một tiếng. Rồi bậc thứ ba. Mỗi bậc cách nhau vài chục giây, đúng nhịp một người già leo cầu thang. Đến bậc thứ mười ba, sát trần, hơi nóng thoát ra qua khe mái, và tiếng kêu dừng lại. Khi lò mở cửa ra mẻ bánh đầu, luồng nhiệt đổi chiều, rồi lại dâng lên lần nữa. Và mùi bơ, mùi bánh mì nướng, theo cái ống khói chung cũ chưa ai bịt, chui vào khoang cầu thang, thấm ra qua những kẽ nứt trong lớp vữa tường nhà tôi.
Trước Tết một tuần, tôi xin phép bà chủ nhà khoan một lỗ nhỏ bằng ngón tay út ở chân tường, chỗ khuất sau gầm giường. Tôi mượn ở cơ quan cái camera nội soi, loại có đầu dò dài, dùng để soi trong lòng cột bê tông. Tôi luồn đầu dò vào lỗ khoan, bật đèn.
Trên màn hình nhỏ hiện ra một khoảng tối, rồi những bậc thang gỗ hẹp, dốc, màu nâu sẫm. Bụi phủ dày như một lớp bông. Mạng nhện giăng chằng chịt từ bậc này sang bậc khác, nguyên vẹn, rủ xuống như những tấm màn mỏng. Tôi xoay đầu dò lên phía trên, soi từng bậc một. Không một dấu chân. Không một vết bụi bị xáo trộn. Không có gì đi qua đây suốt năm chục năm, trừ hơi nóng.
Ở bậc trên cùng, đầu dò chạm vào một vật nhỏ. Tôi chỉnh nét. Một cái khay nhôm méo mó, nằm úp nghiêng, bám đầy bụi. Loại khay người ta dùng để bưng bánh mì lên phòng ăn. Tôi rút đầu dò ra, trát lỗ khoan lại, và không kể chuyện cái khay với ai, kể cả cụ Đàm.
Chị Sen của cụ Đàm vẫn nướng bánh mì phết bơ mỗi sáng, theo một cách nào đó. Nhưng chị không leo cầu thang.
Tôi chưa chắc. Một kỹ sư không bao giờ chắc khi mới có một phép đo. Tôi cần một đêm lò không cháy, mà tôi biết trước, để thử.
Tôi chờ Tết.
— Hết chương 2 —

🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe