Chương 3: Cô Quế bán nước vối ở bến kể
Tôi bán nước vối ở bến Vọng Giang từ năm mười lăm tuổi, giờ hai mươi hai rồi. Chỗ tôi ngồi là gốc gạo đầu bến, ngay cạnh chỗ để thuyền rồng. Tôi có một cái lò than nhỏ bằng đất nung để đun ấm nước, tối về thì để lò lại dưới gốc gạo, úp cái nồi vỡ lên trên, vì xách về xách ra nặng.
Sáng hôm hội, tôi ra bến từ lúc gà gáy để đun nước bán cho người đi xem hội. Tôi nhấc cái nồi vỡ lên thì thấy lò than của tôi còn ấm. Than trong lò đã tàn hết, chỉ còn tro, nhưng đáy lò vẫn ấm tay.
Tối hôm trước tôi tắt lò từ giờ Dậu.
Rồi người ta phát hiện ra vết nứt, rồi ông Tôn bảo có người hơ lửa dưới gầm thuyền suốt đêm. Tôi nhìn cái lò của mình, rồi nhìn lớp tro dưới gầm thuyền. Tro than củi nhãn. Than tôi mua của bà Tư bên xóm Bãi, than củi nhãn, đốt lên có mùi ngòn ngọt, cả bến này chỉ có tôi dùng.
Tôi không nói với ai. Vì tôi còn nhớ một chuyện nữa, và vì tôi sợ. Nói ra là cả làng sẽ hỏi lò than của con Quế sao lại ở dưới gầm thuyền. Con gái bán nước ở bến thì lời nói nhẹ như cái lá đa, người ta muốn thổi đi đâu thì thổi.
Đêm trước hội, trời nóng, tôi không ngủ được, ra hiên nhà ngồi quạt. Nhà tôi trên dốc, nhìn xuống bến. Gần nửa đêm, trăng sáng, tôi thấy một người đi xuống bến, đi tới gốc gạo, cúi xuống chỗ tôi để lò, rồi bê cái gì đó đi về phía thuyền rồng. Người ấy đội khăn. Dưới trăng, khăn ấy màu sẫm, nhưng có một vệt tua dài lủng lẳng sau gáy.
Cả làng Vọng Giang chỉ có một người được đội khăn có tua trong mùa hội. Đó là khăn của tay lái. Ông trùm Lộc trao khăn ấy cho anh Mạnh từ đầu tháng.
Tôi đứng ở bến cả buổi sáng ấy, rót nước vối cho người ta, nghe người ta chửi Thượng Bãi, nghe ông trùm Lộc nói chuyện kiện lên phủ. Tôi nhìn anh Mạnh đứng sau lưng ông Tôn. Tôi thấy anh nhìn cái sống thuyền mục mà mặt anh không ngạc nhiên. Mặt anh như người đã biết từ trước, và bây giờ chỉ thấy mệt.
Gần trưa, khi người ta đã tản ra, chỉ còn ông Tôn ngồi một mình dưới gầm thuyền, tôi rót một bát nước vối mang tới cho ông. Rồi tôi đi tìm anh Mạnh. Anh ngồi một mình trên bậc đá cuối bến, chân ngâm dưới nước.
Anh Mạnh với tôi không phải người dưng. Hai nhà ở cùng dốc. Hồi bé anh hay ăn trộm đường phèn trong thúng nước vối của mẹ tôi, bị mẹ tôi cầm quạt nan đuổi chạy quanh gốc gạo. Năm ngoái, anh nhờ bà mối sang hỏi tôi. Mẹ tôi bảo chờ qua mùa hội rồi tính. Vì thế mà sáng ấy, nhìn cái tua khăn trong trí nhớ của mình, tôi thấy lạnh hơn cả lúc thấy vết nứt.
Tôi ngồi xuống cạnh anh, đặt cái lò than đất nung của tôi xuống giữa hai người.
Anh nhìn cái lò rất lâu. Rồi anh nói, không nhìn tôi:
– Anh nghĩ cả đêm mà không nghĩ ra cách nào khác. Nói thì ông trùm không nghe. Đục thì người ta biết là đục, lại đổ cho Thượng Bãi, có khi đánh nhau to. Anh chỉ nghĩ: gỗ nứt ở mạn thì ông Tôn phải thay ván. Ông Tôn thay ván thì ông thấy cái sống. Ông Tôn mà thấy thì ông không bao giờ để thuyền xuống nước.
– Thế còn chuyện kiện Thượng Bãi?
– Anh sẽ đi nói với ông trùm. – Anh nói. – Chiều nay.
Anh đứng dậy. Tôi không giữ anh lại. Nhưng anh không phải đi tìm ông trùm. Ông Tôn đã đứng ở đầu bến từ lúc nào, tay cầm bát nước vối tôi mang cho, đã uống cạn.
Ông đi xuống bậc đá, đứng trước mặt anh Mạnh. Ông nhìn anh một lúc, rồi nhìn cái lò than dưới chân tôi.
– Mày hơ ở khoảng tay chèo thứ chín. – Ông nói. – Sao mày biết chỗ ấy?
– Con nghe tiếng. Mỗi lần qua chỗ sóng dồn. Từ khoảng ấy.
Ông Tôn gật đầu chậm. Rồi ông nói một câu mà tôi nhớ mãi:
– Mười hai năm tao quét dầu lên cái thuyền ấy, không nghe ra. Mày đứng lái một tháng thì nghe ra.
Rồi ông bảo: lần sau, nghe thấy gì thì đi tìm tao, đừng đi tìm ông trùm.
Chiều hôm ấy, chính ông Tôn đi lên đình, gặp ông trùm Lộc và các bô lão. Ông mang theo một khúc sống thuyền mục ông vừa cưa ra, đặt lên chiếu giữa đình. Ông nói thuyền nứt là vì gỗ mục, lỗi ở người đóng thuyền, làng đừng kiện ai. Ông không nhắc đến lò than. Ông trùm Lộc nhìn khúc gỗ, rồi nhìn ông Tôn, rồi rút lại chuyện kiện lên phủ.
Năm ấy làng Vọng Giang không đua. Giờ Mùi hôm ấy, thuyền Thượng Bãi chèo một mình từ bến dưới lên gốc đa cụt rồi quay về, theo lệ thì vẫn phải chèo cho đủ đường đua mới được tính. Người hai làng đứng kín hai bờ xem. Thuyền bên ấy qua chỗ sóng dồn dưới chân gò đất đỏ thì chao mạnh một cái, mấy tay chèo trượt khỏi ghế, rồi lại đều nhịp. Bên bờ Vọng Giang không ai reo, cũng không ai chửi. Tôi thấy anh Mạnh đứng nhìn theo chiếc thuyền ấy cho tới khi nó cập bến, rồi mới thở ra. Bến đò về tay Thượng Bãi ba năm. Cả làng tiếc, có người chửi, có người đổ cho trời.
Mùa đông năm ấy, ông Tôn đóng một chiếc thuyền rồng mới. Anh Mạnh ngày nào cũng ở xưởng, cưa ván, đẽo đinh tre, khiêng gỗ. Hôm nào nghỉ tay, hai người lại ngồi ở gốc gạo đầu bến, uống nước vối của tôi. Ông Tôn uống không đường. Anh Mạnh uống nhiều đường, và mỗi lần trả tiền, anh trả thêm một đồng.
Tôi hỏi một đồng ấy là tiền gì. Anh bảo: tiền than.
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu🎧 Nghe
🏯 Cổ đại & cung đấu