Chương 3: Trăng rằm tháng Tám
Ngày mười bốn, Chôm không ăn cơm được. Chôm ngồi ở đầu cầu tàu suốt buổi chiều, nhìn mấy chiếc ghe về bến, nhìn ông nội gỡ lưới.
Ông nội Chôm năm nay bảy mươi hai tuổi. Da ông đen như gỗ, tay ông có những vết sẹo của dây lưới cứa. Ông gỡ lưới chậm rãi, vừa gỡ vừa ngâm nga một câu vọng cổ không có đầu không có đuôi.
Chôm nhìn ông. Rồi Chôm đứng dậy, đi vô nhà.
Chôm chui xuống gầm giường. Chôm lôi ra hai khúc cần câu tre. Bụi bám đầy, có cả mạng nhện giăng ngang. Chôm phủi sạch, ôm hai khúc cần câu đi ra cầu tàu.
Ông nội ngẩng lên. Ông thấy hai khúc tre. Tay ông khựng lại trên tấm lưới.
Chôm đứng trước mặt ông. Hai khúc cần câu run run trong tay Chôm.
– Ông ơi. – Chôm nói, giọng nhỏ xíu, rồi Chôm nói to hơn. – Ông ơi, con làm gãy. Không phải con Mun. Con lấy đi câu, con giật mạnh quá, nó gãy. Con sợ ông buồn nên con nói dối. Con xin lỗi ông. Con xin lỗi con Mun nữa.
Ông nội ngồi im. Gió biển thổi qua, mấy sợi tóc bạc trên đầu ông bay bay. Chôm đứng chờ. Chôm chờ ông la.
Ông không la. Ông cầm lấy hai khúc tre, xoay xoay, nhìn chỗ gãy.
– Gãy ngay mắt tre. – Ông nói. – Chỗ này là chỗ yếu nhứt. Hồi đó cố nội con làm, cũng lựa không kỹ.
Rồi ông đứng dậy, đi vô nhà. Lát sau ông trở ra với một cuộn dây cước, một hũ keo, một con dao nhỏ.
– Ngồi xuống đây. Phụ ông.
Hai ông cháu ngồi ở đầu cầu tàu. Ông vót một khúc tre nhỏ làm nẹp, áp vào chỗ gãy. Chôm cầm cho chặt. Ông quấn dây cước, quấn từng vòng, từng vòng, khít rịt. Chôm cầm đầu dây cho ông. Ông phết keo. Mặt trời lặn xuống biển, đỏ như một trái chôm chôm chín.
– Xong. – Ông nói. – Không đẹp như cũ đâu. Nhưng câu được.
Tối hôm đó, Chôm bưng một cái đầu cá đối nướng ra chái bếp, đặt trước mặt con Mun. Mun ngửi ngửi, rồi ăn, đuôi ngoe nguẩy. Chôm ngồi xổm, xoa đầu nó.
– Chị xin lỗi Mun nha.
Đêm rằm tháng Tám, cả làng chài Hàm Ninh ra bãi biển rước đèn. Con nít cầm lồng đèn ông sao, lồng đèn cá chép, lồng đèn lon sữa bò. Người lớn ngồi ăn bánh nướng, uống trà. Ông nội ngồi ở đầu cầu tàu, cây cần câu quấn dây cước để ngang trên đùi.
Chôm ngửa mặt nhìn lên.
Trăng rằm tròn vành vạnh, sáng như cái mâm bạc. Có cây đa ở giữa. Còn ở góc bên trái thì sạch trơn. Không một vệt mờ nào.
Sáng hôm sau, trên chiếu phơi mực có một chiếc lá đa cuối cùng.
Thư thứ năm. Cuội gửi Chôm.
Chôm ơi, đêm qua trăng sạch bóng. Chú không phải lau gì hết, chỉ ngồi gốc đa ngắm con rước đèn. Cái lồng đèn ông sao màu đỏ của con, chú thấy rõ lắm.
Chú kể con nghe một bí mật nha. Cách đây sáu mươi ba năm, cũng có một thằng nhỏ ở làng chài Hàm Ninh gửi thư cho chú bằng thuyền giấy. Thằng nhỏ làm mất chiếc ghe con của cha nó, rồi đổ cho sóng. Vệt mờ hình chiếc ghe con nằm ở góc bên phải trăng, cả tháng trời.
Rồi một bữa, thằng nhỏ đi nói thật với cha nó. Vệt mờ biến mất. Cha nó dẫn nó lên rừng đốn tre, làm cho nó một cây cần câu.
Chú nghĩ chắc con biết thằng nhỏ đó là ai rồi.
Cuội.
Chôm đọc xong, ôm chiếc lá đa chạy ra cầu tàu. Ông nội đang ngồi đó, mắc mồi vô lưỡi câu.
– Ông ơi! Hồi nhỏ ông có làm mất chiếc ghe con của cố nội hông?
Ông nội ngừng tay. Ông nhìn chiếc lá đa trong tay Chôm. Ông nhìn lâu lắm.
Rồi ông cười, cái cười móm mém, mấy nếp nhăn quanh mắt xếp lại như sóng biển.
– Chú Cuội lại đi kể chuyện người ta. – Ông nói. – Cái thằng cha đó, lên trời rồi mà vẫn nhiều chuyện như hồi xưa.
Ông quăng cần câu ra biển. Dây cước quấn ở chỗ gãy lấp lánh dưới nắng sớm, như một vòng nhẫn bạc.
— Hết —

🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi🎧 Nghe
🧸 Truyện thiếu nhi