Chương 3: Gánh cỏ thứ năm
Thằng Tý con nhà hàng xén nghe tới đó thì giơ tay hỏi tôi: thầy Tịnh xin ông lý điều gì.
Tôi bảo nó chờ, để tôi kể nốt một chuyện nữa đã.
Mấy hôm sau vụ thỏi mực, Khải không tới lớp. Rồi một buổi chiều nó tới, đứng ở cổng đình, đợi tôi cắt cỏ ở bờ sông về. Nó đứng đó, áo dài the, guốc mộc, tay không cầm gì. Thấy tôi gánh cỏ đi qua, nó chạy theo, đi bên cạnh tôi một quãng, không nói gì. Đến chỗ rẽ vào chuồng ngựa sau đình, nó mới nói, giọng lí nhí:
– Tao không định để mày bị đuổi thật đâu.
Tôi đặt gánh cỏ xuống, nhìn nó.
– Bố tao bảo, nếu mày đi khảo hạch thì tao không đi được. Bố tao bảo tao phải đi, phải đỗ, không đỗ thì bố tao không nhìn mặt ai ở huyện được. Bố tao bảo mày học giỏi, nhưng mày chân đất, không đi khảo hạch thì sau này cũng đi cày, chẳng ai thiệt.
– Thế bố mày bảo mày giấu mực vào ống tre của tao à?
Nó lắc đầu thật nhanh.
– Không. Bố tao chỉ bảo thế thôi. Còn mực... là tao nghĩ ra. Tao nghĩ nếu mày bị nghi, thầy sẽ không chọn mày. Tao không nghĩ bố tao sẽ đòi đuổi mày.
Nó đứng đó, hai bàn tay vẫn còn trắng bệch vì bồ kết. Tôi không biết nói gì với nó. Tôi mười ba tuổi, tôi chỉ biết cắt cỏ, mài mực muội và học thuộc sách. Cuối cùng tôi chỉ bảo nó phụ tôi ôm cỏ vào máng cho ngựa. Nó ôm, lóng ngóng, cỏ rơi vãi khắp lối đi, nhưng nó ôm tới bó cuối cùng.
Tháng giêng năm sau, thầy Tịnh tiến cử lên huyện không phải một trò, mà hai trò. Đinh Khải và Chử Bảo.
Theo lệ, mỗi lớp chỉ được một. Trò thứ hai phải tự lo tiền lộ phí, tiền giấy bút, tiền trọ ba ngày ở huyện, và phải được lý trưởng làng ký tên bảo lãnh. Nhà tôi không có lấy nửa quan tiền. Vậy mà tờ bảo lãnh có chữ ký của lý trưởng Đinh, ký rất to, đóng cả triện. Còn tiền thì có người đưa tận tay mẹ tôi, gói trong lá chuối, nói là của đình làng cho học trò nghèo.
Đó là điều thầy Tịnh xin ông lý dưới gốc đa: không phải xin ông lý xin lỗi, mà xin ông ký cho tôi một tờ giấy.
Hai đứa đi bộ lên huyện cùng nhau, mất trọn một ngày, ngủ chung một gian quán trọ ở đầu phố huyện, gian rẻ nhất, mái dột một góc. Tối trước hôm thi, tôi mở túi ra thì thỏi mực muội của mẹ tôi gãy làm ba, một mẩu đã bở ra thành bột vì đi đường bị ướt sương. Tôi ngồi nhặt từng vụn cho vào giấy, tay run. Khải nằm trên chiếu nhìn tôi một lúc, rồi ngồi dậy, mở tráp sơn son. Nó lấy ra thỏi mực trầm, đặt lên mép bàn, dùng cán dao rọc giấy gõ một cái thật mạnh. Thỏi mực gãy đôi, không đều, một nửa dài một nửa ngắn. Nó đẩy nửa dài sang phía tôi, rồi nằm xuống, quay mặt vào vách, không nói một tiếng nào.
Sáng hôm sau trong trường thi, tôi mài mực trầm lần đầu tiên trong đời. Cả gian thi quanh tôi thơm mùi trầm. Tôi nhớ tôi viết chậm hơn mọi khi, vì cứ sợ phí mực.
Kỳ khảo hạch ấy tôi đỗ thứ hai. Khải đỗ thứ năm. Cả hai đứa vào trường huyện. Về sau Khải không làm quan, mà về làng làm lý trưởng thay bố, làm hai mươi năm, nghe nói là ông lý hiền nhất từ trước tới giờ. Còn tôi thì thi đỗ, làm thư lại ở phủ mười năm, rồi xin về làng dạy học, như các con thấy đây.
Thằng Tý lại giơ tay. Nó hỏi thế tiền lộ phí của thầy là ai cho, có phải đình làng thật không.
Tôi kể nốt. Năm tôi hai mươi tám tuổi, thầy Tịnh mất. Tôi về chịu tang thầy, dọn lại cái gian nhà nhỏ thầy ở sau đình. Trên bàn học của thầy, chỗ ngày xưa đặt cái nghiên đá cổ màu tím gan gà mà thầy quý nhất đời, chỉ còn một vết tròn trên mặt gỗ, bạc màu hơn chung quanh. Ông thủ từ già kể với tôi rằng đầu năm tôi đi khảo hạch, thầy đã gửi cái nghiên ấy ra phố huyện bán, và từ đó thầy mài mực trên một mảnh ngói vỡ.
Thằng Tý không hỏi gì nữa. Nó quay sang, lấy cái bánh khảo còn nắm trong tay, bẻ đôi, đưa trả bạn nó một nửa.
Tôi bảo cả lớp lấy giấy bút ra. Hôm ấy tôi dạy chúng nó chữ "nghiên".
— Hết —

🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu
🏯 Cổ đại & cung đấu