Chương 3: Người thứ mười hai
Ông giáo Thịnh pha trà bằng cái ấm đất đen mẻ vòi. Nhà ông nằm trên đê, cửa sổ nhìn thẳng xuống bến Bãi Dâu. Ông bảy mươi lăm tuổi, đã dạy Văn ở trường cấp hai trong xã ba mươi năm. Chị Ngần cũng từng là học trò của ông.
Chị đặt cái thẻ số không lên mặt bàn gỗ. Ông nhìn nó rất lâu, không đụng vào.
– Cha con chưa kể với con chuyện năm chín chín, phải không?
– Dạ chưa. Năm đó con mười chín tuổi, đi làm thuê dưới Hội An. Lụt xong con về thì cha con đã chèo đò lại rồi. Con chỉ nghe người ta nói đò cha con lật.
Ông giáo rót trà ra hai cái chén, đẩy một chén về phía chị.
– Đêm mùng hai tháng Mười Một năm chín chín, nước lên nhanh nhất mà thầy từng thấy. Tám giờ tối, ở bên kia sông có mười hai người kẹt lại, nhà họ ở bên ni, con cái họ ở bên ni. Ủy ban đã cấm đò. Cha con vẫn chèo qua. Ông nói mười hai người thì đò chở vừa, chở một chuyến là xong.
Ông nhấp một ngụm trà.
– Thầy là một trong mười hai người đó.
Chị Ngần ngồi thẳng lưng lên.
– Cha con phát đủ mười hai thẻ, từ một tới mười hai. Thầy cầm thẻ số tám, thầy nhớ tới chừ. Ra giữa sông thì một cái cây trên nguồn trôi xuống, nguyên một cây gạo, rễ còn chổng lên trời, húc vô hông đò. Đò không lật liền. Nó nghiêng, nước tràn vô. Cha con hô mọi người bám mạn, giữ thẻ trong tay. Rồi ông bơi vòng quanh đò, đếm thẻ trong tay từng người, một, hai, ba, tới mười một.
– Còn một người. – Chị Ngần nói, giọng chị không ra hơi.
– Một cô giáo trẻ, dạy mẫu giáo bên Đại Hòa. Thầy không nhớ tên đầy đủ, chỉ nhớ học trò gọi là cô Thơm. Cô cầm thẻ mười hai, ngồi ở mũi. Lúc cây gạo húc vô, cô ngồi đúng chỗ đó. Cô mặc áo bà ba trắng, vì chiều đó cô vừa đi dự lễ cưới một đồng nghiệp về.
Ngoài cửa sổ, nắng chiều hắt lên mặt sông một màu đồng.
– Cha con lặn tìm cô tới gần sáng. Người ta phải kéo ông lên, trói ông vô gốc tre cho ông khỏi nhảy xuống nữa. Lụt rút, người ta tìm khắp hạ lưu, tới tận cửa Đại. Không thấy cô. Cái thẻ mười hai cũng không thấy.
Ông giáo nhìn cái thẻ trơn trên bàn.
– Mấy tháng sau cha con chèo đò lại. Ông khắc lại bộ thẻ mới, nhưng chỉ khắc tới mười một. Rồi ông làm thêm một cái không khía, bỏ vô túi áo. Thầy hỏi để làm chi. Ông nói: để dành cho cô Thơm. Hôm mô cô muốn qua sông, thì cô có thẻ.
Chị Ngần không khóc. Chị chỉ thấy hai tay mình lạnh, lạnh như vừa nhúng xuống sông.
Hai mươi lăm năm cha chị chèo đò, không chuyến nào ông chở quá mười một người. Chị nhớ ra điều đó bây giờ, rõ như mới hôm qua. Khách đông, người thứ mười hai đứng chờ trên bến, cha chị lắc đầu: chuyến sau. Người ta cằn nhằn, người ta chửi, ông vẫn lắc đầu. Hồi đó chị tưởng cha già rồi khó tính. Cái ghế ở mũi đò, chỗ ngồi thứ mười hai, ông để trống suốt hai mươi lăm năm.
– Tối qua... – Chị nói. – Tối qua lúc máy tắt, có người cầm sào đẩy đò ra khỏi mấy cái cọc sắt. Thằng Thanh nói không phải nó. Con bé bán bánh tráng ngửi thấy mùi dầu hắc. Mệ Hai Mão nói có một đứa con gái tóc ướt mặc áo bà ba trắng nắm cùi chỏ mệ kéo lại.
Ông giáo Thịnh không nói gì một lúc lâu. Rồi ông cầm cái thẻ lên, lần đầu tiên, xoay nó trong mấy ngón tay già.
– Con có biết hôm qua là ngày gì không?
– Dạ rằm tháng Mười.
– Rằm tháng Mười là ngày cha con mất. Hôm qua là giỗ thứ hai của ông, tính theo lịch âm. Con quên rồi hả?
Chị Ngần đã quên. Giỗ đầu năm ngoái chị làm theo lịch dương cho tiện, mời bà con xóm bến. Năm nay chị định làm tuần sau.
Ông giáo đặt cái thẻ xuống bàn, đẩy về phía chị.
– Thầy không biết, con à. Thầy dạy Văn, thầy chỉ biết kể chuyện. Nhưng nếu thầy phải kể chuyện ni, thì thầy kể rằng có một ông già chèo đò hai mươi lăm năm để dành một chỗ ngồi, rồi chết đi mà người ta vẫn chưa ngồi vào. Ông cầm theo cái thẻ. Ông xuống dưới đó, ông đi tìm. Và tối qua, đúng ngày giỗ ông, trên chuyến đò cuối của con gái ông, có người cầm sào giùm, có người nắm tay một bà già, rồi có người trả lại cái thẻ ở bến bên kia. Vì người ta đã qua tới nơi rồi, không cần thẻ nữa.
Chị Ngần về bến lúc trời nhá nhem. Thằng cháu đã cột đò, đang ngồi ăn bắp nướng.
Chị không cất cái thẻ số không vào túi áo. Chị cũng không đem lên mộ cha. Chị lấy con dao nhíp của ông, cái dao cán sừng đã mòn, ngồi trên ván đuôi đò, cẩn thận khắc lên thẻ một khía. Rồi một khía nữa, cho tới mười hai khía. Khắc xong chị bỏ nó vào túi vải, chung với mười một cái thẻ kia. Bộ thẻ lại đủ mười hai, như bộ thẻ của cha trước trận lụt năm ấy.
Từ hôm đó, chị Ngần chở đủ mười hai người.
Nhưng đêm nào chạy chuyến cuối, lúc đứng ở ván cầu thu thẻ, chị vẫn đếm hai lần. Đếm một lần bằng miệng, đếm một lần bằng tay. Phần lớn các đêm, số thẻ khớp với số người.
Có những đêm sương xuống dày, máy khục khặc, mùi dầu hắc thoảng lên từ mũi đò. Những đêm ấy, nắm thẻ trong tay chị dư ra một cái. Một cái thẻ trơn láng, không khía nào, ấm như vừa nằm trong túi áo ai đó rất lâu.
Chị chưa bao giờ biết nó từ đâu ra. Chị chỉ biết sáng hôm sau, cái thẻ ấy lại biến mất khỏi túi vải.
— Hết —

🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị🎧 Nghe
🕯️ Truyện ma kinh dị
🕯️ Truyện ma kinh dị