AI Truyện
Thẻ mượn số 0417 trả sách sau giờ đóng cửa

🕯️ Truyện ma kinh dị

Vé tàu điện một hào

Thẻ mượn số 0417 trả sách sau giờ đóng cửa · Chương 3/3 · Sáng tác: AI Truyện

📖 7 phút đọc

Đọc ngay

🎧 Bản nghe + video của chương này đang được máy đọc thu âm. Cài app để quay lại nghe khi có.

Chương 3: Vé tàu điện một hào

Quán nước chè của bà cụ bán ở góc phố đóng lúc mười một giờ. Tôi xin bà ngồi thêm, mua hai gói hướng dương, một cốc trà đá. Bà dọn hết ghế nhựa, chỉ để lại cho tôi một cái, rồi kéo cái xe đẩy đi mất. Phố vắng dần. Chỉ còn ánh đèn vàng, tiếng xe máy thỉnh thoảng chạy qua, và mùi hoa sữa đặc quánh như ai đổ cả lọ nước hoa ra đường.

Mười hai giờ. Một giờ.

Một giờ hai mươi, có một bóng người đi từ phía đầu phố.

Bóng người đi chậm, dáng còng, một tay chống gậy, một tay xách cái túi vải. Đi ngang dưới cột đèn, tôi thấy rõ đó là một ông cụ, mặc áo khoác dạ màu ghi đã sờn, đội mũ nồi. Ông đi tới trước cửa thư viện, dừng lại, đứng im một lúc rất lâu. Rồi ông dựng cái gậy vào tường, lấy trong túi vải ra một cuốn sách, đưa lên khe trả sách, đẩy vào từ từ, như sợ cuốn sách đau.

Tôi đứng dậy, cầm đèn pin, băng qua đường.

– Ông ơi.

Ông giật mình quay lại. Ông nhìn tôi, nhìn cái thẻ sinh viên làm thêm đeo trên cổ, nhìn cái đèn pin. Mặt ông tái đi, rồi ông làm một việc tôi không ngờ: ông cúi đầu xuống, như học trò bị bắt quả tang.

– Cháu là người ở trong thư viện à? – ông hỏi. Giọng Hà Nội cũ, chữ nào cũng tròn. – Ông xin lỗi. Ông không có ý làm phiền ai.

Chúng tôi ngồi trên bậc thềm thư viện tới gần ba giờ sáng. Ông hỏi tên tôi. Tôi nói tôi tên Quế Chi, Đinh Quế Chi, quê Phủ Lý. Ông gật đầu, nhắc lại một lần như để nhớ. Ông tên là Lại Đức Huân, tám mươi lăm tuổi, giáo viên dạy Hoá về hưu. Bà Thuần là vợ ông.

Ông kể, giọng đều đều, như đã kể với chính mình nhiều lần.

Hồi những năm bảy mươi, tám mươi, thư viện không có tiền, không có hồ, không có giấy dán. Sách rách tới tay bà, bà không có gì để sửa. Bà mượn về nhà bằng thẻ của chính mình, tối tối nấu hồ bột sắn trên bếp dầu, xin giấy nâu ở hợp tác xã, ngồi dán gáy, ép phẳng bằng mấy viên gạch bọc giấy báo. Sửa xong cuốn nào bà mang trả cuốn đó. Nhưng sách thì nhiều, bà thì có hai bàn tay, con thì ốm, gạo thì đong từng bữa. Sách cứ dồn lại trên nóc tủ quần áo. Năm chín mươi ba bà nghỉ hưu, còn sáu mươi mấy cuốn chưa xong.

– Bà định sửa dần dần rồi trả, – ông nói. – Ba mươi năm, bà cứ định mãi.

Tháng trước, bà mất. Tuần trước, đứa cháu ngoại đọc trên mạng cái thông báo của thư viện, đọc to lên cho ông nghe: một nghìn hai trăm đầu sách mất, đề xuất thanh lý, kèm danh sách người mượn cuối cùng. Trong danh sách có số thẻ 0417.

– Ông không chịu được, – ông nói. – Bà làm ở đây hai mươi bảy năm. Ông không muốn tên bà nằm trong danh sách người làm mất sách. Mà mang lên quầy trả thì phải giải thích, phải ký giấy, người ta lại hỏi sao để lâu thế. Ông già rồi, ông ngại. Ông nghĩ, trả lặng lẽ thì người ta nhập lại vào kho, thế là xong.

– Sao ông không trả một lần hết luôn?

Ông cười, lần đầu tiên.

– Vì chưa sửa xong cháu ạ. Bà còn bốn mươi mấy cuốn dở dang. Ông ngồi học dán gáy theo cách bà, mỗi ngày được một cuốn. Ông dạy Hoá bốn mươi năm mà nấu hồ bột sắn mãi không ra, lần nào cũng vón cục.

Ông nói xong thì cựa người, cái túi vải trên đùi ông xô đi một chút, bên trong có tiếng leng keng, như kim loại chạm vào nhau. Ông thấy tôi nhìn, mở túi ra cho tôi xem: một cái hộp sắt tròn đựng kim chỉ đã tróc sơn, nắp lỏng, đi bước nào cũng kêu.

– Hộp kim chỉ của bà. Ông mang theo cho đỡ trống tay.

Tôi nhớ tới tiếng bánh xe ở tầng bốn, tới cái ngăn kéo kéo ra lưng chừng. Tôi định hỏi, rồi tôi thôi. Ông Huân không có chìa khoá thư viện. Ông chưa từng bước lên tầng bốn. Có những điều tôi biết là mình không nên hỏi một ông cụ lúc ba giờ sáng.

Tôi hỏi chuyện khác.

– Còn mấy tấm vé tàu điện, ông?

Ông im lặng một lúc. Rồi ông lấy trong túi áo dạ ra một tấm vé tàu điện màu hồng, cũng một hào, cũng có lỗ bấm, đặt vào tay tôi.

– Bà đi làm bằng tàu điện, tuyến Bờ Hồ – Kim Liên, ngày hai lượt. Tối về, bà cất vé vào cái hộp sắt đựng kim chỉ. Lúc sửa sách, bà lấy vé ra làm dấu trang, sửa tới đâu kẹp tới đó. Ông để nguyên chỗ bà kẹp, không dám dời đi đâu.

Tôi kể với ông chuyện tôi ngồi xếp mấy tấm vé, dò từng lỗ bấm. Ông bật cười thành tiếng.

– Lỗ bấm chỗ nào là tuỳ tay người soát vé thôi cháu ạ. Có anh bấm giữa, có chị bấm mép. Chẳng có nghĩa gì đâu.

Tôi nhìn tấm vé trong tay. Lỗ bấm ở ngay giữa. Ở mặt sau, có một dòng chữ bút chì đã mờ gần hết, phải nghiêng dưới đèn đường mới đọc ra: Bảy giờ tối, phòng đọc tầng một.

– Cái này không phải dấu trang, – ông Huân nói. – Cái này là vé bà đi tàu tới thư viện năm 1966, hôm bà hẹn ông tới phòng đọc. Hồi đó ông là sinh viên, mượn sách Hoá mà toàn sách rách. Bà bảo tới đi, bà sửa cho. – Ông ngừng một chút. – Ông giữ nó sáu mươi năm rồi. Ông định kẹp vào cuốn cuối cùng.

Ông Huân trả hết sáu mươi hai cuốn sách trong bảy tuần. Từ cuốn thứ sáu trở đi, ông không trả qua khe cửa nữa. Ông đến vào buổi tối, lúc tôi trực ca, đi thẳng vào phòng đọc tầng một, đặt cuốn sách lên quầy. Tôi quét mã, nhập kho, ghi chú vào hệ thống: Đã phục chế bởi bà Kiều Thị Thuần, thẻ 0417. Chị Nhị đọc thấy dòng ghi chú, không sửa, chỉ hỏi tôi có cần thêm năm phục chế không. Tôi nói có. Chị gõ thêm vào sau tên bà: 1979 – 2026.

Danh sách thanh lý, một nghìn hai trăm đầu sách, bớt đi sáu mươi hai dòng.

Cuốn cuối cùng là một cuốn "Hoá học vô cơ" in năm 1964, gáy dán băng giấy nâu, mép hồ còn vón cục. Ông Huân đặt nó lên quầy, rồi đứng đó, tay đặt trên bìa sách, không buông ra.

– Ông muốn làm thẻ đọc, – ông nói. – Cháu làm cho ông một cái thẻ được không? Ông muốn mượn cuốn này về đọc lại.

Tôi làm cho ông một cái thẻ độc giả ngoài trường, ảnh chụp bằng điện thoại ngay tại quầy, ông bỏ mũ nồi ra, chải lại mái tóc bạc. Hệ thống tự cấp số. Tôi in thẻ ra, nhìn con số, rồi tôi đứng im một lúc.

Thẻ số 0417. Hệ thống mới đánh số lại từ đầu năm, và tới lượt con số đó đúng vào buổi tối hôm ấy.

Tôi đưa thẻ cho ông. Ông nhìn con số, không nói gì. Ông mở cuốn sách ra, tìm trang, kẹp tấm vé tàu điện năm 1966 vào giữa, gấp bìa lại, ôm vào ngực.

Tối hôm đó, lúc đi tắt đèn tầng bốn, tôi đi qua dãy tủ phiếu. Ngăn kéo 0401 đến 0450 đã đóng lại, khít như chưa từng có ai kéo ra.

— Hết —

Mục lục Thẻ mượn số 0417 trả sách sau giờ đóng cửa

  1. 1Hộp trả sách4 phút đọc
  2. 2Người mang thẻ 04174 phút đọc
  3. 3Vé tàu điện một hào7 phút đọc

Về truyện này

Thẻ mượn số 0417 trả sách sau giờ đóng cửa là truyện sáng tác mới của AI Truyện: viết bằng AI theo đề cương riêng, soát lại câu chữ trước khi đăng. Nhân vật, địa danh, sự việc trong truyện đều là hư cấu — nếu trùng với ngoài đời chỉ là ngẫu nhiên.

Bản quyền © 2026 AI Truyện. Chia sẻ đường dẫn thoải mái; chép lại toàn văn xin ghi nguồn aitruyen.com. Bản nghe (khi có) đọc bằng giọng Bảo Tín của AI Giọng Nói.

AI Truyện viết truyện thế nào?

Đọc tiếp cùng thể loại

Tất cả →