Chương 3: Con nước
Dạ, ghe sắp vô rạch rồi, cô chú cúi đầu xuống chút, nhánh dừa thấp lắm.
Con vô vườn ông Mười, tính xin lỗi rồi về. Ông Mười đang ngồi ở chòi lá, trước mặt là cái lịch âm treo trên cột, ổng cầm cây viết chì gạch gạch trên đó. Ổng không giận con. Ổng nói chuyện như không có gì.
– Con Hảo, mày coi giùm tao, mười chín tháng này con nước ròng mấy giờ?
Ổng nói ổng bỏ thả cá rồi. Từ nay khách tới, nước ròng thì tát, nước lớn thì không tát, đi chèo xuồng, đi hái trái. Ổng nói thà không có cá còn hơn có cá giả.
Con hỏi ổng: chú biết mấy công ty lữ hành chịu không? Họ cần lịch cố định. Khách đặt tour từ một tháng trước, ghi trong chương trình là tát mương.
– Không chịu thì thôi. – Ổng nói.
Họ không chịu thiệt, cô chú. Ba tháng liền, vườn ông Mười gần như không có đoàn. Mấy nhà bên cạnh giành khách bằng cách hạ giá vé, có nhà bán năm chục ngàn một người có luôn bữa trưa. Năm chục ngàn thì cô chú nghĩ coi, bữa trưa đó là cái gì. Rồi có một đoàn khách bị đau bụng sau bữa ăn ở một vườn trên cù lao, lên báo. Lại thêm một đợt khách bỏ.
Ông Mười cầm cố cái xuồng máy của ổng để trả tiền lương cho hai đứa nhỏ phụ bếp.
Con thì hai tháng không có lương. Chồng con chạy xe từ sáu giờ sáng tới mười giờ đêm. Má con ở chợ Mỹ Tho gửi qua mỗi tuần một bọc trái cây với mấy chục ngàn nhét trong bọc, không nói gì. Có bữa con ngồi trên chòi ông Mười, cầm cái điện thoại coi tin tuyển dụng, tính bỏ nghề đi làm công nhân trên Bình Dương cho xong. Bà Mười đi ngang, để xuống trước mặt con một dĩa bánh xèo, nói ăn đi rồi coi lịch con nước tiếp, chưa xong mà đi đâu.
Hai tháng con nghỉ, con ở lại vườn ổng gần hết. Con học coi con nước. Mỗi tháng có hai đợt nước ròng sát, hai đợt nước kém. Đợt nước ròng sát buổi sáng thì khách tới tát được. Con ngồi với ông Mười, với mấy chủ vườn khác mà còn chịu ngồi, lấy lịch con nước cả năm, đánh dấu những ngày nào, giờ nào tát được. Ra được chừng sáu mươi ngày trong năm.
Rồi con làm một việc mà công ty con không biết. Con gọi cho mười hai công ty lữ hành nhỏ con quen, nói với họ: cù lao này có sáu mươi ngày tát mương thật. Ngày nào không có con nước thì không bán tát mương. Bán cái khác. Ai muốn tát mương thật thì đặt đúng ngày.
Bảy công ty cúp máy. Năm công ty nói thử coi.
Đoàn đầu tiên tát mương thật là một đoàn sinh viên. Hai chục đứa, tát từ chín giờ tới mười một giờ, bùn tới bụng. Được ba con cá rô, một con cá trê vàng, nửa thau tép. Ông Mười nướng trui hết, chia cho hai chục đứa, mỗi đứa được một miếng nhỏ bằng ngón tay. Con đứng trên bờ, tim đập thình thịch, sợ tụi nó chê.
Tụi nó không chê. Tụi nó đòi tát tiếp.
Có một đứa con gái đeo kính, mặt dính bùn tới chân mày, giơ con cá rô lên trời mà la như trúng số. Con cá rô nhỏ xíu, bằng hai ngón tay. Ông Mười đứng trên bờ coi, ổng quay qua nói với con: hồi nhỏ tao tát mương với ông già tao cũng la y vậy đó. Thả cá xô thì khách cười, mà không ai la như vầy.
Rồi cũng có những đoàn tới đúng ngày nước lớn, vì họ đặt trễ, vì xe hư, vì đủ thứ chuyện. Có một ông khách giận, đập bàn đòi tát mương cho bằng được vì trong chương trình có ghi. Ông Mười không cãi. Ổng dẫn ông khách ra mé rạch, chỉ cho ổng cách đặt cái lọp tre dưới chân bụi bần, mồi bằng cám rang. Ổng nói: chiều nay ông đặt, sáng mai tôi gỡ, có con gì tôi gửi hình ông coi. Sáng hôm sau, ông Mười gửi hình hai con cá trê với một con lươn nằm trong lọp. Ông khách đó viết đánh giá năm sao, ghi rằng con cá ngon nhất ông ăn ở miền Tây là con cá ông chưa từng ăn, vì ông về Sài Gòn từ chiều hôm trước.
Chị Sáu Lài, chủ cái vườn bán vé năm chục ngàn, là người cuối cùng vô tổ liên kết. Sau vụ khách đau bụng, chị ngồi ở chòi ông Mười cả buổi chiều, không nói gì nhiều, chỉ hỏi bữa trưa ổng nấu tốn bao nhiêu một khách. Ông Mười lấy cuốn sổ ra cho chị coi, từ ký cá lóc tới bó rau, tới bình gas. Chị coi xong nói: vậy bán năm chục ngàn là chị lỗ từ đầu, chị lấy cái gì bù vô thì chị biết rồi.
Dạ, tới rồi cô chú. Cô chú lên bờ từ từ, bậc thang trơn lắm. Ông Mười kia kìa, ông già mặc áo bà ba trắng, đứng dưới cây chôm chôm.
Dạ, còn một chuyện nữa. Chú hỏi hồi nãy, rồi cái vườn ông Mười giờ sao.
Giờ cả cù lao Thới Sơn có mười bốn vườn đứng chung một tổ liên kết. Mười bốn vườn dùng chung một cái lịch con nước dán ở bến ghe, ngày nào tát được thì ghi màu đỏ. Thực đơn có giá chung, không ai bán dưới giá. Có một tổ kiểm tra bếp của nhau, mỗi tháng đi một vòng, đi tới đâu thì ăn thử tới đó. Không còn vườn nào thả cá xô.
Khách thì không đông như hồi trước. Nhưng ông Mười chuộc lại được cái xuồng máy hồi tháng Chín. Năm nay ổng thuê thêm hai đứa nhỏ phụ bếp nữa.
Còn con thì công ty cho con dẫn đoàn lại. Con xin không dẫn đoàn nào lịch kín. Họ chê con khó, nhưng họ vẫn giao cho con những đoàn khách như cô chú, mấy đoàn chịu đi theo con nước.
Bữa nay, con nước ròng lúc mười giờ hai mươi. Còn bốn mươi phút. Ông Mười với tụi nhỏ đã đắp đập hai đầu mương từ sáng. Cô chú thay đồ, xắn quần, cầm gàu.
Có cá hay không thì con không hứa được. Con chỉ hứa một điều: cá dưới mương bữa nay là cá tự bơi vô.
Dạ, chú nói gì? Lỡ không có con nào thì sao?
Ông Mười nghe chú hỏi rồi đó, ổng đang cười. Ổng nói lỡ không có con nào thì ổng nướng con cá lóc ổng câu được ngoài rạch hồi khuya, ổng để dành trong lu nước cho cô chú. Mà ổng nói rõ trước cho cô chú biết, con đó ổng câu, không phải cô chú bắt.
— Hết —

🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu🎧 Nghe
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu
🏙️ Đô thị & làm giàu